Leave a comment

Từ siêu hình học đến đạo đức thế tục: Vai trò của Tôn giáo và Triết học trong đời sống hàng ngày (23/03/2015)

Thời gian: 18:30 – 21:00 ngày 23/03/2015

Địa điểm:  Café Phượng Các, 213 Bis Nam Kì Khởi Nghĩa, Quận 3 TPHCM

Người trình bày: TS. Nguyễn Đức Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tu sieu hinh hoc den dao duc the tuc Vai tro cua ton giao và triet hoc trong doi song hang ngay

A. TRÌNH BÀY

  1. Vai trò của tư tưởng

–   Tư tưởng là quan trọng, nó dẫn dắt con người ta đi rất xa, nên có một con đường để đi trong cuộc đời. Còn các vấn đề kĩ thuật, công cụ hay kĩ năng đều sẽ được tư tưởng dẫn dắt.

–  John Maynard Keynes trong tác phẩm “Lý thuyết tổng quan về lãi suất, tiền tệ và việc làm” có nhắc đến “Các nhà hành động đều tự cho mình là những người tự do hành động nhưng kì thực chỉ  là nô lệ của một nhà tư tưởng quá cố nào đó. Kì thực thế giới được vận hành bởi các nhà tư tưởng.”

–   Trước đầu thế kỉ XX là thời kì của các nhà bác học toàn thư, tri thức loài người được tập trung ở những tháp ngà vĩ đại của cả một hệ thống.

Định nghĩa Con người Đầu tiên:

Friedrich Hegel, nhà triết học người Đức, là người theo chủ nghĩa duy tâm lãng mạn. Ông định nghĩa con người khác con vật ở chỗ: con vật đánh nhau vì miếng ăn, vì bạn tình, vì bảo vệ thân thể của mình, còn con người có thể hi sinh, thậm chí hủy hoại chính thân thể vật lý của mình vì mục đích không phải vật chất, không hữu hình, có thể chết vì lý tưởng, vì danh dự, bộ lạc, quốc gia.

Theo ông, lịch sử tồn tại vì có sự đấu tranh giữa người đầy tớ và ông chủ để xóa đi cái nhãn giai cấp, trở thành anh hùng.

Định nghĩa Con người Cuối cùng – Sự cáo chung của lịch sử:

Một ngày nào đó, lịch sử sẽ không còn những tư tưởng vĩ đại để con người ta phải chết vì nó, khi đó lịch sử sẽ cáo chung. Với Hegel đó là trận đánh Jena – Auerstadt năm 1806, khi Napoleon đánh bại đế chế Phổ và mang lại các nguyên tắc tự do và bình đẳng cho châu Âu. Sau đó là thời kì quá sử, hay là thời kì không có sử nữa, con người không còn những lý tưởng đó để mà phải hi sinh nữa, giai đoạn đó còn phải mất thời gian để lan tỏa tư tưởng cho toàn bộ loài người.

Karl Marx chịu ảnh hưởng từ sự lãng mạn của Hegel nhưng mang tính duy vật hơn, cho rằng chủ nghĩa Cộng sản là giai đoạn cuối cùng của loài người, khi mà người ta bình đẳng với nhau về cả vật chất và tinh thần.

– Sau Thế chiến thứ I, thế giới không còn những người xây dựng những ý thức hệ (ideology) lớn và bao trùm nữa.

–   Tuy nhiên vẫn còn những vấn đề gây đau đầu cho các nhà triết học, sư phạm, chính trị phương Tây như việc xả súng giết người hàng loạt ở trường học, phong trào Hippie, hay những thanh niên tuổi còn rất trẻ tham gia đầu quân cho Nhà nước Hồi giáo IS, họ khao khát đấu tranh vì một lý tưởng, nhu cầu chủ nghĩa anh hùng nào đó mà chính họ còn chưa biết rõ.

  1. Làm rõ các khái niệm

a) Siêu hình học (SHH – metaphysics)

–  Chúng ta sống trong thế giới, nhìn nhận mọi việc một cách hữu hình (tiếp nhận được bằng tất cả các giác quan của chúng ta, ví dụ (VD) cầm một chai nước, thấy được một vật, nghe thấy tiếng kêu của con vật).

–   Làm sao để biết một vật tồn tại hay không? Con người thường sử dụng các giác quan của mình, nhưng giác quan của con người có giới hạn, không thể cảm nhận hết được sự tồn tại của  nhiều sự vật (tai người chỉ nghe âm trong khoảng 20 – 20.000 Hz, mắt chỉ có tầm nhìn giới hạn) à Con người sử dụng máy móc để mở rộng công năng, khuếch đại hay chuyển về tần số trong ngưỡng của con người. Tuy nhiên, không thể mở rộng khả năng đến vô hạn, khả năng con người là hữu hạn, trong khi thế giới là vô hạn.

–   SHH nghiên cứu về thế giới mà con người không thể vươn tới được bằng các giác quan, không dựa trên hoặc không lấy đối tượng là những thứ hữu hình. SHH chủ yếu nằm trong lĩnh vực triết học và tôn giáo.

–  SHH sử dụng các công cụ, các phương pháp khác nhau, tạo nên hệ thống các môn SHH

   + Phương pháp tư duy: sử dụng trí tuệ để tư biện, tự suy luận

   + Phương pháp Thiền định: sử dụng thể ý thức của con người thông qua trạng thái tĩnh lặng để tiếp xúc với những đối tượng SHH

–  SHH không kiểm chứng được, thường chia ra nhiều hướng giải thích khác nhau nhưng là trọn vẹn (Tôn giáo, Triết học), khi không xác định được hướng nào là chính xác, ta không có quyền phủ định một thứ là không tồn tại, mà chỉ có thể nói là chưa xác định được là nó có tồn tại.
b) Khoa học

–  Khoa học là hệ thống tri thức của loài người về thế giới mà họ nhận thức được, chỉ mới xuất hiện khoảng vài trăm năm trở lại đây. Khoa học có đặc điểm quan trọng là có thể tái tạo và kiểm chứng được thông qua thí nghiệm, do đó dễ thống nhất được niềm tin, có thể chia sẻ và đối thoại, có khả năng lan tỏa rất xa.

VD: Mưa là do ngưng đọng từ hơi nước bốc hơi, có thể tái tạo và kiểm chứng được, chứ không phải do Thần mưa Thần sấm.

–  Tuy nhiên, khoa học có hạn chế rất lớn đối với việc nghiên cứu những tri thức không thể tái tạo được, nhưng vẫn tồn tại (VD: lịch sử, giấc mơ).

c) Lịch sử

Có hai quan điểm về lịch sử:

–  Quan điểm “Lịch sử là khoa học”, lịch sử có quy luật và có thể tái tạo được (Historicism – Duy sử luận)

VD:

  • Nước Đức thời kì Phát xít, Hitler đã “nuôi mộng” cho rằng kỉ nguyên “Đế chế thứ III” của nước Đức thống trị thế giới đã đến (sau Đế chế của Charlemagne và Friedrich Đại đế), tư tưởng này áp đặt lên lịch sử và hấp dẫn người dân Đức.
  • Karl Marx cho rằng lịch sử phát triển xã hội loài người có quy luật, có thể tái tạo được lịch sử của Nga ở các nước khác.

–  Quan điểm “Lịch sử không phải là khoa học chính xác”

Karl Popper trong tác phẩm “Sự nghèo nàn của thuyết sử luận” đã giải thích lịch sử con người khác động vật vì con người có lý trí, nếu biết được lịch sử thì sẽ khiến nó đi theo hướng khác.

Lĩnh vực kinh tế chứng khoán có khái niệm “Kỳ vọng Duy lý” (Rational expectation) – không thể dự đoán được giá cả của thị trường chứng khoán, lịch sử không đi theo hướng dự đoán vì những người làm nên lịch sử khi biết được dự báo thì sẽ đồng loạt có hành động giống nhau, khiến điều được dự đoán sẽ không còn như dự đoán nữa.

Nếu theo tư duy duy sử luận, sẽ có nhóm người tự xưng là biết quy luật của lịch sử, áp đặt quy luật đó lên lịch sử, còn những người không biết quy luật đó thì không cần tồn tại. Điều này dẫn đến nhiều vụ thảm sát trong lịch sử.

d) Đạo đức

Đạo đức là hệ thống cách con người hành xử có thể biện minh xếp loại được thiện/ ác, tốt/ xấu, nên/ không nên (một cách chủ quan). 

  1. Từ SHH đến đạo đức thế tục

SHH có ảnh hưởng lớn đến đời sống bình thường của con người, nó thực sự quy định hành vi, cách ứng xử, suy nghĩ, ảnh hưởng đến toàn bộ cái mà chúng ta nghĩ về thế giới này, đến những mối quan hệ giữa người với người, với cộng đồng xã hội, một cách tự nhiên, mà ta hầu như không nhận biết được:

– Đức tin trong Thiên chúa giáo nói rằng tất cả người đều là con của Chúa, là sản phẩm do Chúa tạo ra, từ đó sản sinh ra hệ thống tư duy triết học bình đẳng, tính bất khả xâm phạm của cá nhân. VD J. Rousseau phản đối tử hình.

– Đạo giáo ở Trung Quốc: mọi thứ, mọi người đều bình đẳng với nhau, con người không được đụng đến thiên nhiên, phải sống giữa thiên nhiên, nên xây nhà cửa phải hòa hợp thiên nhiên, có cây cối, hướng gió. Lăng vua Gia Long nằm hòa trong thiên nhiên hùng vĩ, nhưng đến thời vua Khải Định, lăng Khải Định nằm bề thế uy nghi trên một vùng đất đã phải san phẳng cả một góc núi.

–  SHH phương Đông nhấn mạnh đến tính tổ tiên, gia đình, truyền thống, của cải gia tài phải để lại cho con cháu, trong khi phương Tây quan niệm con người là như nhau, bất kể có cùng máu mủ hay không. Họ chia sẻ nguồn lực theo chiều ngang, nên xã hội dân sự ở phương Tây mạnh hơn nhiều so với Á Đông. VD 90% tài sản của Bill Gates đã được dùng làm quỹ Bill Gates, tài trợ cho các hoạt động phát triển xã hội, chỉ có 10% để lại cho con cái.

– Quan niệm của Phật giáo về Luân hồi, cái thức trong quá khứ, hiện tại và tương lai là trùng trùng duyên khởi, chúng sinh là như nhau, kêu gọi sự bình đẳng rất cao (đặc biệt là khi Phật giáo sinh ra trong xã hội rất bất bình đẳng như hệ thống đẳng cấp Bà la môn ở Ấn Độ).

⇒ Cần ý thức được rằng chúng ta đang sống trong ý thức hệ nào, và tỉnh thức rằng có thể còn những hệ thống khác vẫn tồn tại hoàn toàn bình thường, bên cạnh hệ thống mà chúng ta vẫn đang sống, điều này có thể giúp tránh được sự va chạm giữa các hệ thống giá trị, các nền văn minh.

 B. THẢO LUẬN

1898768_810613258991877_1844747781621286431_o

  1. Có hay không sự tồn tại của nền đạo đức không phụ thuộc tôn giáo?

Có thể. Tôn giáo là một niềm tin, còn đạo đức là cái quy chuẩn, nhu cầu cá nhân đối với cộng đồng. Nếu con người có đủ nhận thức, trí thức thì có thể có đạo đức mà không cần thông qua tâm linh.

(Một SV của ĐH Kinh tế TP.HCM)

  1. Có thể có sự hòa hợp giữa khoa học và tôn giáo không? (VD một người vừa tin thuyết Tiến hóa và thuyết Sáng thế)

Có thể. Tôn giáo theo tiếng Latin hàm ý sự nối kết giữa con người và siêu nhiên. Sự hòa hợp là có giao nhau và bổ sung.  Khoa học và tôn giáo đều có những điểm tương đồng và bổ sung cho nhau: khoa học đã chứng minh được một số điều mà tôn giáo đưa ra, nhưng khoa học chỉ có những công cụ hết sức hữu hạn, nghiên cứu trong phạm vi khả năng của nó mà không thể phủ nhận một số điều tôn giáo đưa ra mà chưa chứng minh.

(Trang Nhung – Tin học, Tài chính ngân hàng, Luật)

  1. Vì sao có sự cực đoan trong tôn giáo?

Khi hai nhóm người có niềm tin khác nhau, mỗi người đều muốn bảo vệ quan điểm của mình thì không sai, chỉ khi họ cực đoan quá mức, làm phương hại đến người khác thì ta cần lên án. Có thể do cảm xúc con người quá mức mà không kiềm chế được, hoặc có người xúi giục, hoặc họ đồng nhất người lãnh tụ với mẫu hình lý tưởng của họ, dẫn đến bảo vệ quá mức, cuồng tín.

(Một SV của ĐH KHTN)

  1. Người vô thần nên có tâm thế như thế nào đối với tôn giáo, nên làm gì để người có tôn giáo nhìn nhận khách quan hơn về tôn giáo?

Vô thần: là không tin vào thần quyền.

Để một người vô thần có thể tiếp nhận tôn giáo thì cần có một điểm chung, đó là sự gặp gỡ giữa vô thần và tôn giáo về các giá trị đạo đức, tạm bỏ qua sự phủ bóng của thần quyền.

Người theo tôn giáo có thể nhìn nhận tôn giáo của mình dưới góc độ triết học, phải được trải nghiệm nền giáo dục đúng đắn, chấp nhận sự phản tư, tư duy triết học bên cạnh đức tin của mình.

(Một SV của ĐH KHXH & NV)

 C. TỔNG KẾT

–   Tôn giáo trả lời những câu hỏi cơ bản như nguồn gốc loài người, lý giải các hiện tượng tự nhiên khi con người còn chưa có hiểu biết tri thức nhiều (con người là tạo vật của Chúa, mưa gió sấm chớp là do các vị thần tạo ra). Việc khoa học ra đời đã dần trả lời được các câu hỏi này (Thuyết Tiến hóa của Darwin, thí nghiệm vật lý về tạo mưa và sấm chớp). Tuy nhiên, tôn giáo vẫn còn chỗ đứng một khi vẫn còn nhiều câu hỏi mà khoa học chưa thể giải thích trọn vẹn thỏa đáng (sự tạo thành vũ trụ, vấn đề đạo đức của con người). Liệu sự phát triển của khoa học có thể đẩy biên giới của tôn giáo đến tận cùng không, có thể trả lời cho mọi câu hỏi hay không?

–   SHH đặt ra những vấn đề cơ bản và rất khó trả lời, nó đụng đến những vấn đề đá tảng, những khái niệm cơ bản nhất nhưng phức tạp nhất của tri thức loài người, mà nếu chỉ dùng các hệ thống hữu hình, các giác quan thôi thì không đủ để tìm câu trả lời. Có những vấn đề rất khó để nói đúng/ sai như trong sách Hiếu Kinh (VD một người trong lúc không có gì để ăn nữa buộc phải giết cha – người đẻ ra mình, hoặc đứa con – người do mình đẻ ra, nếu không cả ba sẽ cùng chết). Chúng ta phải biết tư biện, tự suy nghĩ, đẩy vấn đề đến tận cùng, dựa vào lý luận, triết học, SHH để đi tìm giải thích hợp lý nhất có thể.

–   Nếu chúng ta đẩy vấn đề đi thực sự xa đến tận cùng, tư duy và suy ngẫm về nó, trao đổi với người khác, với sách vở, ta sẽ có thêm ý nghĩa về cuộc sống này, không cần phải là một câu trả lời thật rõ ràng, mà là ý thức về thân phận của chúng ta và những người xung quanh trong cuộc đời, rất nhỏ bé và cũng rất vĩ đại, giúp chúng ta chiêm nghiệm nhiều hơn và có cách ứng xử khác đi.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *