Leave a comment

Trà Việt – Văn Hóa Và Nguồn Cội (05/10/2014)

TÓM TẮT TỌA ĐÀM
TRÀ VIỆT – VĂN HÓA VÀ NGUỒN CỘI 

Ngày: 05/10/2014
Địa điểm:
Trà quán Ông Đồ, 115 D5, Quận Bình Thạnh, Tp.HCM
Người trình bày:
Đỗ Huỳnh Huy Thông
Người hướng dẫn:
Thi sĩ Phạm Văn Sau

TraViet-banner 

I/ Các nét chính trong phần trình bày: Nguồn cội trà

1. Chè – trà

CHÈ (từ thuần Việt) TRÀ (mượn từ tiếng Hán)
MIỀN BẮC Cây trồngSản phẩm chế biến (uống chè)
MIỀN NAM Cây trồng (cây chè) Sản phẩm chế biến từ cây chè (trà tàu, trà sen)

 

Vì ý nghĩa của hai tên gọi là khác nhau đối với từng vùng miền nên cách tốt nhất là “nhập gia tùy tục”. Tùy vào hoàn cảnh, mục đích mà lựa chọn tên gọi.

Chữ “trà” trong tiếng Hán bắt nguồn từ chữ “đồ”.

DoTra

 

 

Trước thời nhà Đường, chữ “trà” có tên gọi và 6 kiểu viết khác nhau. Ngày nay có 108 kiểu chữ “trà” của 10 nghệ nhân Vân Nam. Trong tiếng Hoa, bên cạnh chữ “trà”, tùy theo địa phương còn có các tên gọi: giả, thiết, mính, xuyển.

 

2. Nguồn cội trà

a. Giả thuyết

–        Thuyết Trung Quốc: Trà Kinh – Lục Vũ (760), Carl Von Liaeus (1753)
–        Thuyết Ấn Độ: Robert Bruce (1823)
–        Thuyết Nhị Nguyên: Cohen Stuart (1918)
–        Thuyết Chiết Trung: Đào Thừa Trân (1951)
–        Thuyết Việt Nam: K.M.Djemukhatze (1976)

=>      Phương pháp sinh hóa thực vật, khảo sát vùng chè cổ thụ miền Bắc Việt Nam trong 2 năm

Sơ đồ tiến hóa:

SoDo1b. Truyền thuyết

–        Vua Thần Nông khi tuần thú phương nam, vô tình uống được một thứ lá cây rơi trong nồi nước đang sôi, làm cho tinh thần phấn chấn sảng khoái nên ông gọi đó là Trà.
–        Đức Đạt Ma Sư Tổ của Thiền phái Thiếu Lâm Tự Trung Hoa, đã ngủ quên trong lúc tọa thiền nên tức giận tự cắt mí mắt của mình quăng xuống đất và nơi ấy mọc lên một thứ cây kỳ lạ, hái lá nấu nước uống khiến cho tâm hồn tỉnh táo, được gọi là Trà.
–        Trương Chi – Mỵ Nương: Trương Chi chết hóa thành một hòn ngọc, người thợ đá tạc thành một cái chén uống trà dâng cho gia đình Mỵ Nương. Cứ mỗi lần rót nước trà vào chén Mỵ Nương thấy trong đó có hình chiếc đò bơi qua bơi lại và một tiếng hát từ cõi xa xăm nào đó vọng lại.

c. Thư tịch cổ

–        Trung Hoa: Kinh Thi, Kinh Lễ do Đức Khổng Tử san định không hề thấy nói đến trà; sách Luận Ngữ ghi lại các lời Ngài dạy cũng chẳng thấy nói đến trà. Cuốn Sử Ký của Tư Mã Thiên cũng không dành cho trà một chữ. Qua đó có thể nói ít nhất đến thế kỷ V TCN trà chưa hề được biết đến ở Trung Hoa.

–        Phương Tây: đến 1559 mới có sách viết về trà.

–        Việt Nam: Các sách Giao Châu ký, Ngô lục địa chí, Nam phương thảo mộc trạng… đều ghi chép: “Dân Lạc Việt trồng lúa mà ăn, dùng lá trà làm thức uống.”

d. Địa lý

–        Người Trung Hoa viện dẫn đến Con Đường Tơ Lụa, họ cho rằng chính nhờ con đường này trà và văn hóa trà Trung Hoa truyền bá đi xa.Thực tế cho thấy các nước có Con đường Tơ Lụa đi qua du nhập trà vào nước mình rất trễ và tập quán uống trà khác xa với người Trung Hoa.
–        Theo Trần Ngọc Thêm, cây chè chỉ xuất hiện ở các vùng: nửa phía nam tỉnh Vân Nam (Trung Quốc); Bắc Việt Nam; Bắc Miến Điện, Thái Lan và Lào; Vùng núi phía đông bang Assam của Ấn Độ. Trong khi đó, đến thời Đường, Vân Nam vẫn chưa thuộc Trung Hoa.
–        Theo Trà Kinh của Vũ Thế Ngọc: Không tìm thấy cây trà hoang ở Trung Quốc. Không có “Trà” trên đất Trung Quốc, Trung Quốc cổ đại (phía Bắc sông Hoàng Hà).
–        Khảo cổ học Việt Nam đã tìm thấy những dấu tích của lá và cây chè hóa thạch ở Phú Thọ. Ở Suối Giàng (Văn Chấn, Nghĩa Lộ) có cả một rừng chè hoang mấy vạn cây trong đó có ba cây chè cổ thụ, cao 6-8m, ba người ôm không xuể.

=>        Tìm hiểu nguồn gốc thật sự của trà là cần thiết, nhưng nắm rõ được cội nguồn văn hóa mới là điều quan trọng nhất.

e. Tài liệu tham khảo

TraViet03

II/ Ý kiến bổ sung của người hướng dẫn

1. Trà phong

“Trà Đạo – Trà Mỹ – Trà Nhàn
Trà Hòa: Hồn Việt ươm mầm bằng giao
Duyên thơm – hương tỏa – lời trao
Phảng phất Mùi Triết – ngọt ngào Vị Thơ

Trà Việt có tự bao giờ?”

(trích Lục bát trà, Phạm Văn Sau)

–        Trà Đạo: Nước Nhật nâng cao giá trị trà lên thành một thứ tôn giáo, nghi thức hóa việc thưởng thức trà để cải biến tục uống trà du nhập từ ngoại quốc trở thành một đạo với ý nghĩa đích thực của từ này.
–        Trà Mỹ: đại diện cho văn hóa uống trà của Trung Hoa, cầu kỳ với các yếu tố: dụng cụ uống trà, nước pha trà, lửa đun trà, người pha trà, uống trà, thời điểm uống trà.
–        Trà Nhàn: đại diện cho văn hóa uống trà của Đại Hàn Dân Quốc.
–        Trà Việt: Văn hóa uống trà của người Việt gắn với chữ “Hòa”. Uống trà chính là cách để con người giao hòa với thiên nhiên. Văn hóa uống trà gần gũi, giản dị, vượt lên trên cái duy mỹ, không nặng phần trình diễn, thời gian, địa điểm uống. Điều quan trọng nhất là hòa khí, cái tâm khi uống trà.

=>      Việt Nam có trà đạo hay không?

+    Không, nếu hiểu theo nghĩa đạo là một tôn giáo như Trà Đạo của Nhật Bản.
+    Có, nếu hiểu theo nghĩa đạo là đường lối, nguyên tắc mà con người phải giữ gìn tuân theo trong cuộc sống. Đó là phong tục tập quán luôn gắn liền với hòa khí, tinh thần khi uống trà.

2. Một cử trà ngon

“Nhất – Thủy, Nhì – Trà, Tam – Bôi
Tứ: nơi – Ngũ: bạn – Lục thời cách pha
Nhất: Độc – Nhị: Đối – Tam: Ba
Tứ…dễ riêng chuyện: Cuộc trà lỏng duyên”

                                                  (trích Lục bát trà, Phạm Văn Sau)

a. Thủy: Nước pha trà phải lấy từ sương, nước suối đầu nguồn, hoặc nước mưa, suối, giếng.
b. Trà cụ: Mỗi mùa có một bộ trà cụ riêng biệt.
c. Bạn trà: Tốt nhất là uống trà với số lượng 3 người trở lại. 4 người trở lên cùng uống trà dễ sinh ra nói chuyện riêng. Vậy nên bộ trà ở Việt Nam thường có 3 chén.
d. Cách pha:

–        Xúc trà vào ấm nhẹ nhàng
–        Đun nước khoảng 75-90oC
–        Châm một ít nước sôi vào bình trà rồi chắt ngay ra, đổ đi nước đầu này để loại hết bụi bẩn
–        Lần đổ nước thứ hai, đổ nước cao tràn miệng bình để khi đậy nắp lại, bọt bẩn trào ra hết, rồi dội nước sôi lên nắp

e. Cách rót mời: Rót cho nhiều người: đặt các chén sát nhau rồi rót liên tiếp 2 lần xuôi ngược để độ đậm nhạt của trà trong mỗi chén là như nhau
f. Thưởng thức:

–        Dâng chén trà theo đúng cách là ngón giữa phải đỡ lấy đáy chén, ngón trỏ và cái đỡ miệng chén gọi là “Tam long giá ngọc”
–        Khi uống, cầm chén trà quay lòng bàn tay vào trong, dâng chén trà lên sát mũi để thưởng thức hương trà trước, sau đó tay che miệng nhấp nhấp từng ngụm nhỏ nhẹ để cảm nhận hết cái thơm ngọt của trà

3. Trà Việt

Mỗi vùng miền có một loại trà đặc trưng:

–        Miền Bắc: trà móc câu. Gọi “trà móc câu” vì cánh chè sau khi sao xong sẽ quăn lại giống hình cái móc câu.
–        Miền Trung: trà sen vua Tự Đức. Kỹ thuật ướp trà với hoa sen bắt nguồn từ thời vua Tự Đức: gói trà thành từng gói giấy bản nhỏ, thả vào trong từng bông hoa, đêm xuống, bông hoa khép cánh lại, ấp ủ dúm trà suốt đêm.
–        Miền Nam: trà ô long, sản xuất thông qua quá trình phơi lá chè cho héo dưới ánh mặt trời và quá trình oxy hóa mạnh mẽ trước khi uốn và xoắn

III/ Hỏi – đáp

1. Tại sao văn hóa uống trà của người Việt lại gắn với chữ “Hòa”?

Không chỉ văn hóa uống trà mà toàn bộ bản sắc văn hóa Việt Nam đều gắn chặt với chữ “Hòa”. Lý do: nằm ở vị trí giao thoa của các nền văn hoá văn minh, phải du nhập cái từ bên ngoài thì mới tồn tại được.

Riêng về trà, xuất phát từ gốc nông nghiệp lúa nước Đông Nam Á cổ đại, phát triển và chịu ảnh hưởng sâu sắc của Trung Hoa và tiếp sau đó là ảnh hưởng của Ấn Độ, phương Tây, văn hóa trà của người Việt đã linh hoạt tiếp nhận các luồng văn hóa bên ngoài. Vì vậy chúng ta không có một nền văn hóa trà bản địa đặc trưng như một số nước khác.

2. Bên cạnh chữ “Hòa”, các nghi thức về cách pha, rót mời, thưởng thức,… liệu có cần thiết?

Chữ “Hòa” trong văn hóa uống trà Việt Nam còn có nghĩa là hòa nhập với tự nhiên. Người Việt uống trà rất giản dị nhưng tinh tế. Không cần bình chén đẹp, trình diễn cầu kỳ, không chú trọng nghi thức, cốt là khi uống trà cảm được cái ngon ở trong lòng, phong thái tự nhiên. Theo như văn hóa dân gian thì đây gọi là phi thường đạo, đạt đỉnh cao của đạo và không cần đến nghi thức nữa.

3. Tại sao nói tới trà người ta chỉ nghĩ tới Trà Đạo?

Khác với Việt Nam, Nhật Bản là một quốc đảo, không chịu nhiều ảnh hưởng từ các yếu tố bên ngoài. Nền văn hóa của họ đạt đến độ khúc xạ cao. Sau khi tiếp nhận những cái mới, họ có thể xóa bỏ hoàn toàn nguồn gốc và biến nó thành cái của họ.

Riêng đối với trà, người Nhật đã nghi thức hóa và đưa văn hóa trà lên đỉnh cao của tinh thần, trở thành một đạo riêng của dân tộc mình.

IV/ Kết luận

Văn hoá trà có chức năng chung của nền văn hoá Việt Nam, cũng đóng góp một phần vào chức năng xã hội như công cụ giao tiếp ứng xử, định hướng các chuẩn mực, giáo dục nhận thức, thẩm mỹ, giải trí thư giãn. Vì vậy, cần có sự hiểu biết và quan tâm nhất định để gìn giữ nét đẹp văn hóa này.

TraViet02

V/ Tài liệu bổ sung từ người hướng dẫn – Thi sĩ Phạm Văn Sau

Những đoạn thơ trong phần này được trích từ Lục Bát Trà, Phạm Văn Sau, NXB Thanh Niên, 2011.

Trà Đạo – Trà Mỹ – Trà Nhàn[1]
Trà Hòa: Hồn Việt ươm mầm bằng giao
Duyên thơm – hương tỏa – lời trao
Phảng phất mùi Triết – ngọt ngào Vị Thơ.

                                                                     (trang 9)

I. TRÀ ĐẠO (TRÀ NHẬT)

Dân Nhật thể hiện sự bất khuất để nói lên tính kiên cường của mình nên bất cứ việc gì cũng lý tưởng hóa và chiến đấu hết lòng. Từ văn minh, kỹ thuật đến những thú chơi tinh thần, nhất là những thú vui có thể thăng hoa được để tôn lên thành Đạo (Hoa Đạo, Kiếm Đạo…). Nhưng khi gặp Trà:

“Cây đa vốn vẫn cây đa
Đặt thêm ông địa – hóa ra tục thờ
Đất sét triệu năm ngu ngơ
Nắn thành tượng Phật đâu ngờ lại thiêng

 Mỗi người “Cơ thuận – Hòa duyên”
Tùy lòng tin mộ – khéo viên cho tròn
Tìm cái thẳng trong cái cong
Tôn sùng cái đẹp ẩn trong tầm thường”

 (trang 93)

  1. Ưu điểm của Trà

“Trà thức giải khát Thi Nhân
Nét riêng tao nhã thiết cần biểu dương
Làm đẹp mọi giới đời thường
Đối lưu nhân ái, hỗ tương bí huyền”

 (trang 93)

  1. Huấn luyện Trà Nhân

“Từ Trà nào thành Đạo đâu?
Do nơi “ý hướng” khơi sâu ngõ hồn
Tự Trà đâu phát ngữ ngôn?
“Tố chất – Hương đức” nhập dồn nội thân”

Trà Sư cân nhắc muôn phần
Kiệt tác ắt phải muôn phần thiêng liêng
Trà sư huấn chính Trà nhân:
Xác thân hồn hội muôn phần chơi vơi
Lắng nghe vị đắng mầm phơi
“Khơi Thiện – Hướng Thiện” hướng đời tuệ quang

Để nghe tâm tưởng ngập tràn
“Niềm vui trào lộng” – “Đón ngàn cơ duyên”

(trang 96)

“Nhật sùng bái “sự bất toàn”
Ba sinh vun quén mong toàn diện hơn
Vượt trên thẩm mỹ giản đơn
Tìm cầu an lạc, gầy đơm cuộc trà
Khắp từ thanh lịch xa hoa,
Khuê phòng quyền quí, thẩm qua nghèo nàn:
Yêu từng con suối lang thang
Vờn muôn viên đá – mơ màng gọi sông
Tầm đạo – không dừng chữ “Ngon”
Siêu vượt siêu thức khiến hồn thăng hoa”

“Trà là Trà – ngưỡng chung qui
Chỉ hơn muôn thức: “Đường đi – Nẻo về”
Có điều rất dễ thỏa thuê
Đủ đầy “Đức tố” – hương tề chỉnh hơn
Hàm ẩn ngay trong vị thơm
“Tao nhã – tinh khiết” nơi cơn khát thường

 (trang 94)

Trà Đạo được nhập từ Trung Hoa năm 729, đến kỷ thứ XV, Trà Đạo mới bắt đầu rõ ràng.

  1. Phối hợp Lão – Phật (Viên dung Trà đạo)

“Cùng nhau trong cõi tương đồng
Đẩy trà tới Đạo: “qua sông” – “về nhà”!

(trang 98)

 “Đạo gia – Thiền giáo chơn truyền
Trau dồi bất tận uyên nguyên đạo tràng
“Cái đẹp chân thực viên toàn”
Nhận biết khi đã “bất toàn hoàn xong”
Đã đem nhan sắc vào trong
Giấu hẳn cái đẹp trong lòng ra gương

Nghìn thu đạo ẩn vô thường
Mấy ai tỉnh mộng miên trường đa đoan
“Hòa, Kính, Thanh, Tịch” viên đoàn
Công phu Thiền tập khải hoàn Chân Không
Vạn pháp khởi từ Tánh Không
Trà Đạo toàn triệt: “Một Công án Thiền!”

(trang 105)

II. TRÀ MỸ (TRÀ TRUNG HOA)

Chú trọng đến nghệ thuật, đến cái mỹ, một số Trà Nhân ở mức thượng thừa (rất ít) vượt tới Trà Đạo Nhật, tuy nhiên, hầu hết đều rơi vào hiện tượng, chỉ một số ít đạt tới nghệ thuật Trà Mỹ.

“Chưa hư không phải không hư
Khi đủ điều kiện, diễn hư lắm trò
Nhỏ không chịu, phải thật to
Đẹp đẽ như thế, còn lo chưa tầm
Thực ảo đánh lận rồi ham
Chạy theo đuối sức, quyết làm cho hơn
Định nghệ thuật tận sâu lòng
Nếu không biết thế, hỡi hồn về đâu”

(Vườn Vô Thường, Phạm Văn Sau)

Trà Mỹ bị rơi hẳn vào cái đẹp (Trà cụ, cách múa rót), cái ngon (khoe của đắt giá), đôi lúc, còn đem cả võ thuật vào múa rót.

“Chén bình đòi hỏi phải xinh
Kiểu cách múa rót, rơi tình nào hay”

III. TRÀ NHÀN (TRÀ ĐẠI HÀN)

Chỉ cần đạt mục đích Nhàn, đơn giản trong Trà cụ và cách pha đến mức không còn đơn giản được nữa. Gần giống bác nông phu Việt, chỉ cần khoái khà nơi bát chè xanh.

“Bác nông phu xong luống cày
Hai tay nâng “ực” – ngất ngây tiếng “Khà”

Uống một bát mềm mọng môi
Đến hai đã khát, mồ hôi tháo dần
Nhẹ cả người – phút thư nhàn
Thoảng hiu hiu gió, sướng dần Cõi Không”

(trang 180)

TraViet04

IV. TRÀ HÒA (TRÀ VIỆT)

Trà Việt Nam là Trà Phong (phong thái uống trà), đặt nặng vào chữ Hòa để hòa nhập, hòa ái…đạo trời, đạo nhà, đạo người (tam hòa, thiên thời địa lợi nhân hòa).

Nền tảng giống như ba thứ Đạo, Nhàn, Mỹ.

“Uống là uống cả cái lòng
Núp khéo trong bụng thong dong lộ ngoài
Ngon sạch đẹp, tuy hẳn hoi
Siêu vượt lên kẻo, khéo sai hướng nhìn”

(trang 180, 181)

 “Thử một lần thăm Thiền sư
Mắt trần trơ ngó – Sẽ như thế nào?
Từ bước gặp gỡ mở chào
Phong thái pha uống hao hao đời thường
Cởi bỏ hết, cảm tận tường
Hòa kinh thanh tịnh, con đường sư đi

Tuy khác Trà Đạo nội qui
Nhưng dày Tâm lực, những gì cưu mang
Không có Trà thất đàng hoàng
Không có tôn chỉ vương mang trong mình
Không cúi chào chén của mình
Không bình gia bảo phát sinh quí trà
Không cầu kỳ nghi thức pha
Không một khuôn thước để mà chuyển sang
Chỉ nghe tâm thái nhẹ nhàng
Chính Tâm lực đó truyền lan qua mình
Lúc từ giã – cái bóng mình
Không theo mình nữa, thoát hình bỗng bay
Cái sân chùa, vẫn xưa nay
Cái bàn, cái ghế, cái cây bên đường
Sẽ khắc hẳn lúc bình thường
Dù chén đạm bạc – vấn vương vấn lòng
Cái đạo lận giữ tận trong
Nghe hiu hiu gió mà lòng nhẹ tênh”

(trang 178-179)

  1. Một cử trà ngon.

“Nhất – Thủy, Nhì – Trà, Tam – Bôi
Tứ: nơi – Ngũ: bạn – Lục thời cách pha
Nhất: Độc – Nhị: Đối – Tam: Ba
Tứ…dễ riêng chuyện: Cuộc trà lỏng duyên”

 (trang 44,45)

Nhất Thủy:

“Cuộc trà dù hạng “bậc trung”
Nước mưa, suối, giếng, thế vùng thiếu sương
Nước suối: tốt nhất đầu nguồn
Hứng mưa mái lá, ngói – thường giữa cơn
Giếng đá ong, chẳng giản đơn
Đào sâu mạch tốt phải hơn cả sào[2]
Nước mưa lấy ở cây cau
Bằng gân tàu lá cột vào gốc cây
Cho xuôi dốc, nước xuống đầy
Sẽ bị chặn lại – xuôi dài mo cong
Muốn tốt hơn, dây sợi thòng
Hoa cau cột dưới, rỉ dòng xuống chum
Cơn mưa nhỏ nước chớ dùng
Giữa cơn mưa lớn mới cần tốt thôi
Khi đậy chum, chế nước sôi
Loăng quăng khó sống, lỗ hơi thông vào”

(trang 34, 35)

Nhì Trà

Trà phải hái vào ban đêm, sáng tinh mơ, hướng phía Đông. Thiếu nữ phải móng tay dài, sợ bị dập lá. Trà Nhất: đột; Nhì: một tôm hai lá

“Vừa lú đầu – ngắt tận tai
Ngày phơi sương nắng, đêm sai lửa vờn”

(trang 12)

Trà cụ

“Bộ trà cụ phỉ cái tình
“Mát nóng ấm lạnh” phát sinh “Thời Trà”
“Xuân – hạ – thu – đông” phân ra
Đồ trà bốn bộ phải là biệt riêng

Cũng Ấm, Tống, Quân và Chuyên
Nhưng đã phân định rẽ riêng khi dùng”

(trang 34)

Bộ đồ Trà theo mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông
Tùy đất nung: Tử Sa, Bát Tràng…
Bình càng quý, nước ngon để lâu thiu (ba ngày)

Tứ nơi: trà Thất – hiên nhà, xa lánh chốn phồn hoa.

Ngũ bạn: bạn hiền

“Thói đời Rượu tứ – Trà tam
Không khéo chọn bạn, tục phàm hỏng duyên
Độc – Đối – Tam – Tứ… hàn huyên
Cốt giữ hòa khí, bạn hiền khó phân
Dù vui, lễ nghĩa tối cần
Nhiều sinh bạn tạp, nản dần thú chơi
Mất luôn vẻ đẹp đất trời
Còn gì ý nghĩa – lỡ đời phế hoang.”

(trang 35)

Lục thời cách pha:

“Xúc trà vào ấm nhẹ nhàng
Thìa bằng tre gỗ – sợ phàm tục hơi
“Ngọc diệp hồi cung” – yên nơi
Nước tăm sủi bọt trào sôi rót vào
“Cao sơn trường thủy” nước đầu
Tráng nhanh, chắt nước kẻo hao hương trà
“Lần hai”: tràng miệng khi pha
“Cao sơn nhập thủy” – trào ra bọt vàng
Chế sôi lên ấm nhẹ nhàng
Bụi dơ lần cuối – lẹ làng xuống khay”

(trang 35,36)

“Ngón hoa nâng ấm xoay nghiêng
Đường cong hư huyễn phong duyên kín vào
Nghe từng cánh nở xôn xao
Phút giây giao hội – ngạt ngào tỏa hương

Đặt ấm xuống rất bình thường
Nhưng sao như thể môi hường chạm hôn”

(trang 29)

Cách rót mời

“Nhẹ đưa vòi ấm vòng xoay
Chậm vừa thoang thoảng hương lay khẽ khàng
Nếu không, dùng Chuyên trung gian
Chén vòng đặt sát hoặc hàng nối đuôi
Rót hai lần xuôi ngược xuôi
Tay nhịp lên xuống đầu đuôi rồi ngừng
Hai lần chỉ nhích hơn lưng
Đầu cuối đậm nhạt xem chừng đều nhau”

(trang 36)

Cách nhận và thưởng thức

“Đưa lên mũi nâng hai tay
Giữa lòng nâng chén, còn tay giữ hồn[3]
Trước khi ngụm, hưởng vị thơm
Hương lay khứu giác, trà dồn về tâm
Nét văn hóa như giấu ngầm
Chậm rãi, mím miệng nuốt thầm khẽ thôi
Kịp lúc hương thông mũi rồi
Chắp chắp nước bọt, một hồi cảm nghe

 Ngũ giác quen hết phán phê
Vị đắng – mầm thiện, nghe mê mẫn lòng

Mứt gừng, sen,…tăng vị thơm
Hương len nồng ấm chuyển dồn lên tim
Không gian tĩnh mịch im lìm
Nghe đời rạng rỡ thần kinh siết ngầm
Ngũ giác quan đượm dư phần:
Lâng lâng thanh thản thấm dần tóc tơ

Mùi thơ vị triết không ngờ
Nhẹ nhàng lau lách chạm bờ thềm xuân.”

(trang 31,32)

  1. Trà Việt

Ngoài Thái Nguyên và Bắc Thái còn có Shan Tuyết, Móc Câu, thiên cổ đệ nhất Trà Sen (Sen Hà Nội).

Cách làm trà Shan Tuyết

“Lão chè hàng trăm tuổi hơn
Mỗi năm thu hái không hơn bốn lần
Đem chưng ủ đủ ba năm
Lá chuối khô lót hủ sành – rồi đây:
Sấy lên, đốm trắng nổi dày
Gọi tên: Shan-tuyết – định ngay: Danh trà”

(trang 23)

Trà Sen Hà Nội

“Trà cùng sen phủ Tây Hồ
Hái nơi Quảng Bá hoa to “gạo”[4] nhiều
Lượng thì lớn chẳng bao nhiêu
Trên ngàn búp lượt chẳng nhiều gạo sen
Hái sáng sớm tách trong đêm
Khéo còn lưng ký, ngỡ hên được quà
Tháng tư qua tháng bảy ta
Gạo thơm gỡ lấy cùng trà ướp chung

Lớp trà lớp gạo từng tầng
Ba ngày mỗi đợt, bảy lần mới thôi
Mỗi đợt sàng gạo kỹ rồi
Thay ngay gạo mới, xông hơi đèn cầy
Hoặc dùng “hơi nước sôi” thay
Vị thơm mới đượm tình lay hồn người

 Mỗi năm trăm ký làm chơi
Để dành biếu khách đâu khơi đại trà

Mỗi ký dăm chỉ vàng ta
Dân sành tranh đặt, dễ mà được hên?!

 “Thiên cổ đệ nhấ” – Trà Sen:
Chính danh Shan-tuyết ướp sen Tây Hồ”

(trang 25, 26)

Trà sen Vua Tự Đức

“Sẵn trà Shan-tuyết với sen
Cung nữ trinh khiết ngón quen ngoan nghề
Nhuần nhị trong nếp áo thêu
Khiển thuyền tách bến, nghe khiêu nụ lòng.
Chọn sen kỹ, lựa từng bông
Tay ngà từng đóa, búp hồng nâng lên
Sợi chiều óng ả tô thêm
Cắn sen, cá lén không quên khen thầm
Không gian vĩnh tịch nhu âm
Cung khiêm trinh nữ âm thầm chọn hoa
Khéo tay nụ sống hé ra
Xên trà vào búp – chờ hòa hương đêm
Bình minh thuyền nhỏ nhẹ êm
Gom sương khuya rụng nơi thềm lá xanh
Đất trời ngân giọt thủy tỉnh
Phải bao nhiêu lá đủ tình thăng hoa?
Ít nhất bốn ấm gọi là!
Thuyền về ghé ngắt “búp trà ngậm hương”
Lá sen gói – tay nhẹ nương
Chưa dùng đề đấy, vách tường dựng yên”

(trang 27)

Trà Ô long: Lâm Đồng, Đà Lạt.

 

 TraViet01

—————————- 0O0 ———————————-

[1] Trà Nhật Bản – Chanoyu, Trà Trung Hoa – Kung-fu tea, Trà Hàn Quốc – Panyaro
[2] Đơn vị đo tương đối, bằng chiều dài cây tre 7m
[3] Giữa lòng này chén hay trên 3 ngón tay – tùy thời tiết bên ngoài
[4] Gạo sen: “tẽ những hạt trắng ở đầu nhụy hoa gọi là gạo sen. Muốn có gạo sen ưng ý để ướp thì hoa sen phải hái từ lúc mặt trời chưa mọc, khi sương chưa tan và hương hoa còn ngậm. Tuốt lấy gạo sen cũng phải làm một cách khéo léo, nhẹ nhàng để không làm tổn hại đến mùi thơm. Một trăm bông sen mới được một lạng gạo sen.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *