Leave a comment

[TÓM TẮT] SỰ XÁO TRỘN CỦA HỆ THỐNG ĐẠI HỌC TƯ THỤC

 

#giaoduc, #daihoc, #tuthuc

Ngày: 29/05/2016

Thành viên trình bày: Châu Dương Quang

Khách mời:

– Cô Nguyễn Hồng Cúc (khoa Lịch sử, ĐH KHXH & NV Tp.HCM)

– Cô Nguyễn Bảo Thanh Nghi (bộ môn Xã hội học, ĐH Mở Tp.HCM)

Dai hoc tu thuc

Chủ đề: “Đại học Tư thục: Thế giới và Việt Nam”

Tên đề tài: Sự xáo trộn của hệ thống Đại học Tư thục

Lý do chọn đề tài

Lấy ý tưởng từ bài báo khoa học “The declined of Higher Education” (Daniel C. Levy, 2011), đề tài “Sự xáo trộn của hệ thống Đại học Tư thục” tham khảo, chứng minh ý kiến của GS. Levy thông qua số liệu bổ sung và đi sâu đánh giá “sự xáo trộn” (thay vì suy thoái) của Giáo dục đại học tư thục tại Việt Nam. Ngoài ra, đề tài về sự suy thoái/ xáo trộn là đề tài ít được nghiên cứu trong mảng nghiên cứu về hệ thống Đại học Tư thục trên thế giới.

Đề tài được góp ý thêm về góc nhìn lịch sử và xã hội học của hai khách mời tại chương trình. Nội dung trình bày được tổng hợp dưới đây có bao gồm những góp ý tại chỗ của người tham dự.

Các mục chính:

  1. Sự ra đời và phát triển của những đại học tư thục hiện nay
  2. Các dấu hiện của sự xáo trộn
  3. Các nguyên nhân của sự xáo trộn
  4. Thảo luận trường hợp của Việt Nam
  5. Kết luận của người trình bày
  1. SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NHỮNG ĐẠI HỌC TƯ THỤC HIỆN NAY

a/ Ba làn sóng phát triển Đại học Tư thục

(1) Thế kỷ XIX-XX: Hệ thống công lập và tư thục: Nhập rồi tách

– Hệ thống giáo dục đầu tiên, bao gồm hệ thống giáo dục bậc cao: bắt đầu từ xã hội tôn giáo thời Trung Cổ ở châu Âu. Do nhu cầu truyền bá giáo lý, các trường học được lập nên và giảng dạy bởi cha xứ, các môn học là về tôn giáo, thần học…

– Các cơ sở giáo dục bậc cao đầu tiên (Bologna, Paris, Valencia, Cambridge, Oxford…) bắt nguồn từ việc một nhóm học giả, phần lớn là các giáo sĩ giảng dạy những môn cao cấp đã đệ trình lên Giáo Hoàng để thành lập cơ sở giáo dục.

–> Trong suốt nhiều thế kỉ sau đó (đến tận cuối thế kỉ XVIII), đây là hệ thống giáo dục bậc cao duy nhất tồn tại, hầu hết là do các tổ chức tôn giáo thành lập và duy trì

–> Vì chỉ có duy nhất 1 hệ thống giáo dục bậc cao tồn tại nên không phân biệt Tư thục/ Công lập

– Cách mạng Pháp thay đổi tình trạng nắm quyền ở các trường Đại học. Sức ảnh hưởng của tôn giáo bị suy giảm, nhà nước do nhân dân nắm quyền. Nhà nước dân sự bắt đầu chú trọng đến giáo dục, mở ra nhiều đại học do chính họ quản lí; đồng thời, họ cũng đưa ra một số chính sách hạn chế sự hoạt động của các trường trực thuộc tôn giáo (chẳng hạn: chỉ bằng cấp do các trường do nhà nước quản lí cấp mới được xem xét khi ứng tuyển làm công chức nhà nước). Xã hội lúc đó cũng được thế tục hóa mạnh mẽ, chương trình giáo dục được thế tục hóa, có thêm các môn khoa học.

–> Bắt đầu có 2 hệ thống đại học tồn tại song song: Công lập (do nhà nước quản lí) và Tư thục/ ngoài Công lập.

(2) Sau Thế chiến thứ II: Công lập thắng thế ở châu Âu (Tây Âu), Tư thục thắng thế ở châu Á

– Công lập thắng thế ở châu Âu: bối cảnh giai đoạn này là các nước cần tái thiết sau chiến tranh. Do vậy, nhà nước là tổ chức duy nhất có thể huy động được nguồn lực lớn mạnh như thế; đồng thời, chỉ có nhà nước mới có thể điều phối các kế hoạch tái thiết vĩ đại. Nói chung, vai trò của nhà nước và đầu tư công thời gian này rất lớn. Hệ thống đại học công lập cũng nhờ đó mà phát triển.

(Cô Thanh Nghi bổ sung) châu Âu có viện trợ từ Mỹ. Ngoài ra, tâm lý chung của người phương Tây sau chiến tranh là muốn rút ra bài học nhân văn sau vụ thảm sát người Do Thái, nên việc đầu tư vào Giáo dục cho mọi người là cần thiết, để phát triển Giáo dục quy mô rộng như vậy, nguồn lực công là chủ yếu.

(Dương Quang bổ sung) làn sóng Mass Higher education: nhu cầu đi học đại học tăng cao – nguyên nhân có thể đến từ mong muốn của chính quyền tạo ra nguồn nhân lực trình độ cao, hoặc nguyên nhân cũng có thể đến từ các phong trào dân chủ và bình đẳng sau thế chiến, mọi người đều muốn được đi học…

– Châu Á: mặc dù nhà nước cũng cố gắng đầu tư vào các trường công, nhưng giáo dục bậc thấp hơn (tiểu học, trung học) được ưu tiên hơn. Vì vậy, ở bậc đại học, nguồn lực nhà nước còn hạn chế, và vì vậy, các đại học tư phát triển.

(3) Từ thập niên 70, 80: Khủng hoảng toàn cầu, tư thục phát triển

Khi thế giới có rất nhiều biến động: chiến tranh vùng Vịnh, giá dầu tăng, lạm phát,… thì vai trò của nhà nước bị ảnh hưởng bởi những cuộc suy thoái đó. Nhà nước không còn đủ khả năng để duy trì các chính sách phúc lợi tốn tiền nữa. Các đại học cũng bắt đầu thu học phí. Trong khi đó, nhu cầu học tập của người dân vẫn tiếp tục tăng. Những lí do trên khiến cho hệ thống ĐH tư thục được phát triển.

 

b/ Phân loại Đại học Tư thục có nhiều cách, một trong số đó chia thành 3 loại chính

– Identity private university: phục vụ nhóm đối tượng mà đại học công lập “bỏ quên”, ví dụ các nhóm Tôn giáo (Tin Lành, Phật giáo…); sắc tộc (trường đại học dành riêng cho người da trắng, da màu…); giới tính (trường đại học dành cho nữ giới)

– Elite private university: có nguồn lực nghiên cứu và danh tiếng học thuật lớn; ví dụ: Yale, Harvard, MIT (Mỹ), Waseda, Keio (Nhật)…. Tuy các đại học này (điển hình là ở Mỹ) là biểu tượng và mơ ước của mảng đại học tư thục, nhưng các đại học này chưa bao giờ là đại diện cho mảng đại học tư thục. Họ là thiểu số!

– Demand obsorbing private university: đáp ứng nhu cầu học của số đông, đầu vào thấp hơn đại học công lập; tập trung giảng dạy các ngành có tính thực hành và ứng dụng. Đây là loại đại học tư thục phổ biến nhất và mang tính đại diện cho cả khối đại học tư thục.

c/ Hệ thống ĐH Tư thục hiện nay

COUNTRY PRIVATE
HEIs
%PRIVATE
HEIs
PRIVATE
STUDENTS
%PRIVATE
STUDENTS
Malaysia (200) 559 97 322,891 50.9
Japan (2007) 4,199 89.6 2,924,022 77.4
Philippines (2005) 1,431 89.5 1,589,866 65.2
Korea (2006) 280 87.0 2,565,888 80.1
China (2008) 640 28.3 4,013,010 19.9
Poland 315 (2005) 70.8 (2005) 660,464 (2007) 34.1 (2007)
Portugal (2004) 110 66.7 98,664 25.9
USA (2007) 2,667 61.3 4,757,348 26.1
Hungary (2006) 40 56.3 56,590 13.6
Global (2010) 30,555 55.7 34,943,443 31.3

* Số liệu các nước từ thời điểm trước khủng hoảng kinh tế 2008 vì sự khó khăn của việc cập nhật số liệu.

– Nhìn chung, hệ thống đại học tư thục rất phát triển, không nước nào là không có hệ thống này (kể các các nước có phúc lợi tốt cho giáo dục như các nước Bắc Âu). Có những nước cực đoan như Bắc Triều Tiên hay Bhutan mới không có ĐH tư thục.

  1. Các dấu hiệu của sự xáo trộn

a/ Hiểu đúng về sự xáo trộn

Xáo trộn KHÔNG đồng nghĩa với suy thoái và có sự xáo trộn đang xảy ra đồng thời với sự phát triển

– Sự xáo trộn đang là xu hướng chính của giáo dục đại học tư thục, diễn ra chủ yếu tại mảng demand-absorbing PHE

– Sự xáo trộn được nhìn thấy rõ nhất khi quan sát toàn hệ thống

 

b/ Một vài dấu hiệu xáo trộn:

– Tỷ lệ sinh viên trong hệ thống Giáo dục giảm xuống

Ví dụ: Bồ Đào Nha, tỉ lệ sinh viên hệ tư thục giảm từ 36% (năm 1996) xuống 25% (năm 2006)

– Tỷ lệ trường ĐH Tư thục giảm

Ví dụ: Ở Nhật, trong vòng 10 năm (1998-2008), số trường cao đẳng tư giảm từ 503 xuống còn 386

– Rất nhiều trường buộc phải giải thể, phá sản, tranh chấp, mua bán, sát nhập (ở Việt Nam, Mỹ, Malaysia, Trung Quốc)

  1. Nguyên nhân suy thoái hay “xáo trộn” (theo GS. Levy)

a/ Xã hội cởi mở hơn: xu hướng tiếp nhận sinh viên bất kể tôn giáo, sắc tộc dù trong hệ thống công hay tư làm cho nhóm trường Identity private university không còn đất để phát triển.

b/ Một vài dấu hiệu chững lại của dân số: theo số liệu của World Bank, tốc độ tăng dân số nhìn chung đang giảm xuống, ảnh hưởng đến tốc độ tăng của tổng số sinh viên toàn cầu.

c/ Thay đổi chính sách:

– Thay đổi đường lối chính trị: bị phụ thuộc bởi tư tưởng của nhà cầm quyền về việc đầu tư cho hệ thống tư thục hay không, điển hình là ở Trung Quốc và Cuba.

– Do ảnh hưởng của các tổ chức quốc tế: IMF và World Bank khuếch trương chủ nghĩa Tân tự do (Neoiberalism) – đề cao vai trò từng cá nhân, kể cả trong giáo dục. Họ thúc đẩy chính phủ cắt giảm trợ cấp cho đại học công lập, cho rằng người học tự trang trải phần lớn học phí; từ đó ưu thế về học phí của trường Công lập không còn, kích thích trường tư phát triển.

– Mở rộng hệ thống công lập: ví dụ Colombia giai đoạn 1997-2007 đầu tư vào trường Công lập, trường công lập cạnh tranh các ngành khoa học ứng dụng và kinh doanh với trường tư.

– Tư thục hóa giáo dục đại học công lập.

– Delayed regulations: chính quyền Đông Âu, Nga đưa ra nhiều quy định về quy chế, tiêu chuẩn cho trường Tư thục sau một thời gian để phát triển tự do và không có nhiều quy định.

  1. Thảo luận

GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TƯ THỤC Ở VIỆT NAM

a/ Ba giai đoạn phát triển

– Trước đổi mới: Đại học tư thục ở Việt Nam: có từ trước năm 1975 ở miền Nam Việt Nam, chủ yếu là do các cơ sở tôn giáo lập nên như Đại học Vạn Hạnh (Phật giáo), Đại học Đà Lạt (Công Giáo), Đại học Hòa Hảo, Đại học Cao Đài… Sau 1975, nhà nước gộp các đại học này vào đại học công lập.

– Những năm đầu đổi mới:

  • Thí điểm đại học ngoài công lập Thăng Long (1988)
  • Hiến pháp 1992 công nhận sở hữu tư nhân
  • Nghị quyết Đảng 04/1993 quy định về “người học trả học phí”

– Thời kỳ vàng son của giáo dục đại học Tư thục (từ năm 1993-1994 trở đi):

  • Ban hành các quy định về đại học dân lập, bán công & tư thục.
  • Các chính sách xã hội hóa giáo dục (1999, 2005, 2008)
  • Luật Giáo dục 2005 bãi bõ quy định cũ “nghiêm cấm các hoạt động thương mại giáo dục”, khuyến khích quá trình tư nhân hóa. Có những Đại học do các tập đoàn kinh doanh lập nên (FPT, Tân Tạo, Hà Hoa Tiên…); cơ sở giáo dục nước ngoài (ví dụ: RMIT), các chương trình liên kết đào tạo quốc tế …

b/ Dấu hiệu xáo trộn, chững lại ở VN:

– Tỉ lệ trường và sinh viên hệ tư thục giậm chân tại chỗ/ tăng chậm, thậm chí còn sụt giảm

– Nhiều vấn đề về pháp lý xảy ra ở các trường Đại học tư thục (trường ĐH Hoa Sen, Hùng Vương, Chu Văn An, Hồng Bàng, Hùng Vương…)

c/ Nguyên nhân xáo trộn ở Việt Nam

– Mức phát triển ĐH công lập rất mạnh (hầu như mọi tỉnh thành đều có ít nhất 1 trường đại học)

– Các đại học công lập tự chủ tài chính, cạnh tranh về chất lượng, uy tín và học phí với khối ĐH Tư thục

– Tư nhân hóa giáo dục đại học

– Chuyển đổi dân lập – tư thục gây nhiều khó khăn cho các trường này do những kẽ hở pháp lý và mâu thuẫn nội bộ

– Xem các đại học tư thục là công ty cổ phần gây nên sự tranh chấp giữa những người thành lập trường là các nhà giáo tâm huyết và nhà đầu tư

Thảo luận: Nguyên nhân “Việt Nam thiếu những nhà tư bản lớn”?

– Dương Quang: thiếu những nhà tư bản có khả năng chịu lỗ lớn trong một thời gian khi đầu tư vào Giáo dục Đại học, ví dụ ở Mỹ, những nhà tư bản như thế này có khả năng đầu tư giúp hệ thống Giáo dục Đại học phát triển.

– Phản biện của người tham gia: Việt Nam vẫn có những nhà tư bản lớn, điển hình về việc họ đầu tư mạnh vào những ngành khác như nông nghiệp. Tuy nhiên, việc đầu tư vào giáo dục chưa có cơ chế pháp lý đảm bảo cho lợi ích của họ khi đầu tư.

– Cô Thanh Nghi: Việt Nam có một số nhà tư bản lớn nhưng họ “chưa” dám đầu tư. Theo góc nhìn xã hội học, “thiếu lòng tin” trong xã hội chính là nguyên nhân, họ chưa cảm thấy tin tưởng việc đầu tư mang lại lợi nhuận (về vật chất, danh tiếng và con người). Đối với các nước phương Tây, lòng tin xã hội có mức độ cao hơn nên vấn đề chưa có lợi nhuận sau từ vài chục đến trăm năm vẫn được chấp nhận. Sự có mặt của các nhà hảo tâm với truyền thống hiến tặng cũng có ý nghĩa đầu tư lớn vào Giáo dục, đặc biệt Giáo dục tinh hoa.

– Cô Hồng Cúc: Đồng ý với quan điểm thiếu lòng tin, và sự thất bại của việc kêu gọi “xã hội hóa giáo dục” (so với trước đây Giáo dục do nhà nước toàn quyền nắm) chứng minh cho điều này. Việc biến chyển thể chế đột ngột sau năm 1975 giữa quy chế Đại học Tư thục (sở hữu tư nhân, đại diện cho “xã hội hóa giáo dục”) và Đại học Dân lập (sở hữu tập thể) khiến nhiều nhà đầu tư ngần ngại.

Doanh nghiệp thành lập đại học tư gặp thất bại: nguyên do đến từ lòng tin cho rằng Giáo dục và Y tế là hai cơ sở không thể nói đến vấn đề kinh doanh. Những quy định thành lập và hạn chế thành lập Đại học tư thục khiến sự đầu tư vào lĩnh vực này của Doanh nghiệp không nhiều.

 

Thảo luận: Chúng ta hiểu Đại học, trường Đại học, học Đại học là gì?

– Thống nhất chung: Đại học không phải trường phổ thông cấp 4, có đồng phục hay có nhiều biểu hiện về đề cao kỷ luật, tác phong. Tinh thần tuyệt đối của Đại học là “tự do tư tưởng”.

– Dương Quang: Sự lạm dụng danh từ “Đại học”: Sau Thế chiến thứ II, thế hệ Baby Boomer được sinh ra (1946 – 1964), dẫn đến nhu cầu học lên cao sau phổ thông rất lớn. Từ đó hệ thống Đại học cả ở Mỹ và châu Âu phát triển thêm một nhánh để đáp ứng nhu cầu này, và thiên về hướng khoa học ứng dụng, dạy nghề. Danh từ Đại học (hiểu theo nghĩa môi trường tự do tư tưởng) bị hạ xuống một bậc. Đối với Việt Nam, nhánh Đại học mới này được gọi là Cao đẳng. Trên thực tế, danh xưng Đại học khác nhau ở nhiều nước. Ở Mỹ trường Cao đẳng cộng đồng (Community College) được xếp vào Giáo dục bậc cao (Higher Education) như Đại học nhưng ở châu Âu không có sự tương xứng đó. Ở Anh, để có được danh xưng Đại học cần nhiều điều kiện, nếu không đủ thì chỉ được xét như một trường (school) hay Cao đẳng (College) mà thôi.

– Theo cô Cúc về phương pháp học Đại học: Sinh viên cần chuẩn bị tinh thần học đại học: tự học, học nhóm và làm đề tài nghiên cứu. Nghiên cứu được hiểu là cách giải quyết một vấn đề, vai trò của giảng viên là hướng dẫn đề tài, tự giải quyết vấn đề không phải là đọc – chép.

  1. Kết luận của người trình bày:

– Tình trạng xáo trộn trong Giáo dục Đại học Việt Nam không phải cá biệt, các nước cũng xảy ra tình trạng này. Việc giáo dục Đai học theo hướng đào tạo nghề cũng xảy ra ở Việt Nam và nhiều nước khác, không phải nước nào cũng có nền giáo dục khai phóng mà Việt Nam đang thiếu.

– Quá trình nghiên cứu đề tài cũng giúp nhìn nhận đúng thực trạng giáo dục ở Việt Nam, việc mong muốn cải thiện vấn đề phải đi kèm với việc nhìn nhận đúng và chấp nhận thực trạng.

 

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *