Leave a comment

Các lỗi ngụy biện trong tranh luận

Thời gian: 18h30 ngày 30/6/2015

Địa điểm: phòng 204, Đại học Hoa Sen, 8 Nguyễn Văn Tráng, Q1, TPHCM

Người trình bày: TS Nguyễn Hữu Liêm, giáo sư Triết học, San Jose City College (USA)

I/  Giới thiệu về tranh luận và luận cứ

Formal logic: symbolic sentential logic

Informal logic: argumentation.

Triết học phương Tây trả lời câu hỏi: “Chất căn bản nào tạo nên tất cả sự vật?”

 – Thời xưa, triết học, khoa học và tôn giáo là như nhau, nhà khoa học đồng thời cũng là triết gia, và cũng liên quan đến tôn giáo.

  – Cách đây 500 năm: các quan điểm thay đổi, bắt đầu thời hiện đại (thuyết Nhật tâm thay thế thuyết Địa tâm, Descartes được xem là cha đẻ của Triết học hiện đại phương Tây).

Epistemology: tri thức luận.

Thực tại gồm tất cả các thực thể + mối liên hệ/ quan hệ giữa các thực thể đó + những biến cố xảy ra.

Ngôn ngữ chứa cảm tính trong đó à khó tranh luận đến nơi đến chốn.

Ngôn ngữ định hình tư duy của chúng ta.

Relationship between language and reality?

-> Truth function: Triết học đòi hỏi những mệnh đề có ý nghĩa (proposition)

VD:  “Thượng Đế yêu thương nhân loại.” à non sense vì không có truth function, không xác minh được “Thượng Đế” là thế nào, “yêu thương” thế nào, “nhân loại” gồm những ai?

Phải có fact – mệnh đề của sự kiện, true or false

VD: “Cam có vitamin C.” à true  à truth values/ claims.

Argument  (luận cứ): là tập hợp những propositions.

Cần có 2 yếu tố: – Premise(s) : tiền đề

                           – Conclusion: kết luận

Premise: valid or invalid, sound or unsound, strong or weak, but not true of false.

Có 2 hình thức lập luận:

(1) Deductive (suy giải)

VD: Every man is mortal. Socrates is a man. à Socrates is mortal.

2 tính chất:

–  Structure: valid or invalid

An argument is valid if and only if it’s not possible that both all premises are true but conclusion is false.

Cần có working definition – định nghĩa được chấp nhận.

– Substance: sound or unsound.

(2) Inductive (quy nạp)

Dựa trên những kinh nghiệm, kiến thức, tiên đề để đưa ra kết luận.

Lập luận quy nạp có thể strong or weak à cogent or uncogent.

A premise: a claim that can be true or false, relevant or irrelevant to conclusion.

II/  Các lỗi ngụy biện cơ bản trong tranh luận

  1. Red Herring fallacy

Irrelevant premises à distract

Là lỗi rất thường gặp, đưa ra những mệnh đề không liên quan đến nội dung kết luận.

VD: “Mỹ không nên can thiệp chiến tranh ở Iraq.” – “Bộ mày ủng hộ bọn khủng bố à?”

à Can thiệp chiến tranh là áp đặt sức mạnh quân sự, là vấn đề chính sách của Mỹ (dùng vũ lực để can thiệp vấn đề văn hóa chính trị phức tạp của nước khác thì  không giải quyết được gì cả), nếu phản biện thì phải liên quan đến chính sách, quân sự, chứ vấn đề cá nhân ủng hộ hay không ủng hộ khủng bố không liên quan gì đến nhận định trên cả.

  1. Ad Hominen fallacy (Personal attack)

Chỉ trích/ tấn công cá nhân.

VD: “Không nên có luật cho phép phá thai.” – “Đàn ông biết gì về mang thai mà nói.”

  1. Appeal to ignorance fallacy

Dựa vào vô minh, dựa vào cái không biết để nói nó đúng.

To claim X is true because there’s no proof that X is false.

Negative evidence is not a real evidence.

(Basic legal fallacy: không chứng minh được vô tội tức là người đó có tội ?!?)

  1. Mistaken of cause (causation attribute)

Nhầm lẫn giữa Correction vs Causation.

VD: “Con gà gáy, Mặt trời lên.” à “Vì con gà gáy nên Mặt trời mới lên.”

VD2: “Một người da đen dốt.” à “Mày dốt vì mày da đen.”

A premise is relevant to conclusion only if the truth of premise makes the truth of the conclusion more or less likely.

  1. Burden of proof

Trách nhiệm bằng chứng: người nói một khẳng định phải có trách nhiệm đưa ra bằng chứng để chứng minh, chứ không phải người bị truy tố có trách nhiệm chứng minh mình vô tội (quyền im lặng).

  1. Slippery slope fallacy

A single step will end up in  a disaster and a very bad ending.

VD: Con không được nói chuyện điện thoại với thằng đó vì nói chuyện sẽ thương nó à hẹn hò à nắm tay à hôn à đi khách sạn à có thai à cha sẽ giết con à con sẽ xuống địa ngục.

Giống như câu “Đừng cho mũi con lạc đà vào lều.” à đến cái đầu nó vào à 2 chân trước à thân con lạc đà à cả người nó chui vào.

Mang ý hăm dọa hoặc để kết tội quá vội vã.

Phản biện: determined by the weakest link.

  1. Compound question

Many assumption in one question.

VD: “Anh đã ngưng đánh vợ anh chưa?”

-> Phải đặt câu hỏi về những giả định có sẵn.

III/ Case study

Pros or Cons: Hôn nhân đồng tính vừa được Quốc hội Mỹ thông qua là hợp pháp.

Pros

–  Natural born à cũng là con người, có đầy đủ quyền như con người, trong đó có quyền hôn nhân

–  Hôn nhân là chuyện hạnh phúc riêng của couple

–  Dù không hợp pháp hóa thì người đồng tính vẫn sống với nhau à nên hợp pháp hóa để đưa vào khuôn khổ pháp luật

Cons

–  Detrimental to children, khi  nhận nuôi con

–  Gay is disease/ abnormal

–  Gene damage, cặp đôi đồng tính không sinh con làm giảm nguồn gene

-> Dựa trên Legal or moral argument, individual or social benefit (utilitarian argument0

Một số lỗi ngụy biện:

–  Appeal to tradition: Definition of marriage “ Man + woman à procreation”

-> định nghĩa lại Hôn nhân là sự kết hợp giữa hai người, là chuyện hạnh phúc của người trong cuộc chứ không vì mục đích của xã hội.

– Analogical argument: so sánh với đa thê, nếu chấp nhận hôn nhân đồng giới thì cũng sẽ đòi hợp pháp hóa đa thê à slippery slope

-> không có bằng chứng nào chứng minh hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới sẽ kéo theo đòi hợp pháp hóa đa thê, đó là hai chuyện khác nhau.

IV/ Tổng kết

Luận cứ (argument) là một tập hợp những luận đề, mà trong đó phải có câu kết luận (conclusion), và những tiền đề phải liên quan (relevant) với kết luận.

Luận cứ không có true or false mà chỉ có valid or invalid, sound or unsound.

Proposition có giá trị chân lý/ giá trị sự thực. Hiện nay do bias science mà giá trị true or false thường được xác định bằng thực nghiệm, tránh những mệnh đề không thể chứng minh vì tranh luận sẽ không đi đến đâu. (triết học đặt câu hỏi nhưng không có câu trả lời, tôn giáo là về những câu trả lời nhưng không được đặt câu hỏi, khoa học là đặt câu hỏi và tìm cách trả lời)

Xã hội dân chủ và tiến bộ cần có argue trên cơ sở rational reasonable logic.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *