Leave a comment

[Tóm tắt] Buổi thảo luận về tư duy tập thể (Groupthink)

Ngày: 03/04/2016

Địa điểm: Cofffe VEO, 351/45 Lê Văn Sỹ, phường 13, quận 3, Hồ Chí Minh

Người trình bày: Thùy Dung – SV ĐH KHXHNV

I/ Các nét chính trong phần trình bày

  1. Khái quát về Groupthink:

“Groupthink” được đặt ra bởi nhà tâm lí học Ivring Janis-đại học Yale

Trong cuốn sách của ông “Victims of Groupthink” (tạm dịch: Những nạn nhân của tư duy tập thể), ông có đề cập đến việc sử dụng phương pháp nghiên cứu tình huống để xác định những nhân tố khác nhau có thể dẫn đến quyết định sai lầm của một nhóm người.

  1. Định nghĩa:

Groupthink là một hiện tượng tâm lí xảy ra đối với một nhóm người, trong đó, các thành viên quá xem trọng sự hòa hợp và thống nhất trong nhóm dẫn đến không xem trọng việc đánh giá thực tiễn và đưa ra hành động.

  1. Đặc điểm của Groupthink

– Groupthink thường xảy ra trong trong các “nhóm tách biệt” nơi mà các thành viên có mối quan hệ khắng khít với nhau, đặc biệt trong những nhóm không có các nguyên tắc nhất định cho việc thảo luận, hoặc ở những nhóm mà các thành viên có nhiều điểm chung.

– Groupthink xảy ra khi sự hòa hợp và thống nhất của các thành viên trong nhóm được đặt lên trên cả việc phân tích tính  khả thi của một kế hoạch hay sự đúng sai của một quyết định sắp tới.

– Trong một nhóm có sự thống nhất cao như vậy, các thành viên trong nhóm thường rất xem trọng ý kiến của người đứng đầu của nhóm, và ngược lại, xem nhẹ, hoặc thậm chí phớt lờ ý kiến của những các nhân khác trong nhóm.

– Kết quả là, tự khắc những cá nhân trong nhóm sẽ dè dặt trong việc phản bác ý kiến của nhóm (mặc dù họ nghĩ rằng kế hoạch của đa số các thành viên trong nhóm không phải là một kế hoạch mang tính khả thi), hay họ cũng không nêu lên ý kiến của riêng họ. Nhóm, lúc này sẽ thu hẹp các lựa chọn có thể và thường hướng tới những lựa chọn khiến họ cảm thấy an toàn và  giúp họ giữ được hòa khí trong nhóm. Nếu chăng có tiếp thu các ý kiến, thì nhóm cũng chỉ chọn lọc các ý kiến không khác biệt mấy so với ý kiến mà nhóm đã có trước đó.

-Một số dấu hiệu của Groupthink:

  • “Ảo tưởng sức mạnh”: Việc quá tự tin về khả năng của mình, và xem thường những tình huống có thể xảy ra.

Ví  dụ như trước sự kiện khủng bố 11/09/2001 nhằmvào nước Mĩ, người Mĩ vẫn tin tưởng tuyệt đối vào hệ thống an ninh quốc gia của họ.

  • Niềm tin tưởng tuyệt đối vào nhóm: Do đặc thù của nhóm nơi các thành viên quá gắn bó với nhau thì đây là điều dễ hiểu. Các thành viên đặt nhiềm niềm tin vào nhóm trưởng, vào cả nhóm, và đương nhiên là đặt niềm tin vào quyết định của họ mà không hề có một ý niệm nào về việc chất vấn quyết định đó.
  • Dùng lí trí để áp đặt ý kiến lên người khác: Họ sẽ cố gắng tìm ra mọi lí do để phản bác ý kiến đối lập với ý kiến của họ. Ví dụ: Đối với người đưa ra ý kiến thiểu số, một nhóm người có thể nói câu “Chúng tôi hẳn đã nghiên cứu kĩ vấn đề này hơn cậu.” hay “Chúng tôi đều là chuyên gia trong lĩnh vực này cả”
  • Lối suy nghĩ rập khuôn: Các thành viên chỉ chấp nhận những dữ liệu hợp lí, và bác bỏ những dữ liệu không phù hợp với quan điểm của họ. Ví dụ: Nếu tôi nói với bạn rằng tàu ngầm biết bay, thì bạn sẽ lập tức bác bỏ ý kiến của tôi vì quan điểm của bạn là tàu ngầm phải chạy dưới nước!
  • Tự thuyết phục bản thân: Nếu như một thành viên có ý kiến trái ngược với ý kiến của đại đa số (đang chịu áp lực từ đám đông), nên sẽ tự thuyết phục bản thân rằng “có lẽ mình sai thật”.
  • Ảo tưởng về sự thống nhất: Ảo tưởng này bắt nguồn từ thỏa thuận ngầm “im lặng đồng nghĩa với đồng ý”. Tức là có thể trong nhóm có người có ý kiến trái chiều, nhưng do họ không dám bày tỏ ý kiến, nên trưởng nhóm, và các thành viên khác nghĩ rằng nhóm đã thống nhất về vấn đề đang bàn luận.
  • Áp lực trực tiếp: Những cá nhân có ý kiến khác biệt với đại đa số các thành viên còn lại sẽ bị xem nhẹ, bài bác, hoặc thậm chí là bị “tấn công”. Ví dụ: Trưởng nhóm có thể nói câu đại loại như “ Nếu như cậu cứ nhất quyết như vậy thì tôi e rằng cậu phải rời khỏi nhóm”
  • “Mindguards”: Trong Groupthink,  “Mindguards” là các thành viên trong nhóm, cố hạn chế khả năng tiếp cận thông tin của các thành viên trong nhóm (cố ý hoặc không cố ý) bằng cách sử dụng các thủ thuật khác nhau để hạn chế các ý kiến trái chiều trong nhóm và hướng nhóm đến sự thống nhất về mặt ý tưởng đồng thời làm hạn chế các khả năng nhóm có thể nghĩ ra để giải quyết một vấn đề.

Các kỹ thuật được dùng bởi “Mindguards” có thể kể đến như: áp lực thời gian trong việc đưa ra quyết định, áp lực tâm lí nhóm, tạo ra một ý niệm trong nhóm rằng “nhóm sẽ mất tính đoàn kết nếu có người có ý kiến trái chiều”

– Những ví dụ về Groupthink trong quá khứ: Trận Châu Trâu cảng (Pearl Harbor) 1941. Thảm họa phóng tàu Challenger 1986, Sự kiện vịnh con lợn (Bay of Pigs) 1961, Cuộc leo thang chiến tranh của Mĩ tại Việt Nam 1965, vv.

  1. Cần làm gì để hạn chế Groupthink?

– Cần có một người đóng vai trò phản biện cho tất cả các ý kiến được đề ra trong nhóm. Điều này giúp nhóm tránh được các rủi ro đối với các quyết định của mình

– Khi phân việc cho các thành viên trong nhóm, trưởng nhóm cần  tránh cho các thành viên trong nhóm biết ý kiến của mình, tránh ảnh hưởng đến quá trình quyết định của họ.

– Có thể chia nhóm thành những nhóm nhỏ khác nhau để giải quyết một vấn đề và trình bày, phản biện lẫn nhau để đạt được một phương án tối ưu nhất.

– Nghĩ ra càng nhiều phương án thay thế càng tốt. Việc tối đa hóa các lựa chọn sẽ giúp nhóm tránh được các quyết định mang tính chủ quan và thiên kiến- Cần thường có sự phản hồi từ bên ngoài từ người đáng tin cậy, để đảm bảo nhóm nhận được những lời nhận xét khách quan nhất.

Kết luận:

II/ Ý kiến bổ sung của người tham gia

2 mô hình tư duy giúp hạn chế Groupthink là Brainstorming (các thành viên đều viết ý tưởng của mình ra giấy, trình bày cho cả nhóm, và sau đó nhóm bầu chọn phương án khả thi nhất), và Red line- Greenline (Cả nhóm lần lượt đưa ra các lí do phản đối và ủng hộ cho một quyết định nào đó)[i]

III/ Hỏi – đáp

  1. Về thí nghiệm của Asch, mình nhớ lại thì thí nghiệm này có tên là Asch conformity experiment. Thí nghiệm này và groupthink có liên quan như thế nào?

 

Thí nghiệm của Asch(*) là một thí nghiệm đơn giản nhưng rất có ảnh hưởng trong ngành tâm lí  học. Mục đích của thí nghiệm chính là chứng minh sự tồn tại của áp lực nhóm (peer pressure hay Social Pressure) đối với cá nhân. Áp lực nhóm, là áp lực mà nhóm tác động lên cá nhân, làm thay đổi hành vi, suy nghĩ, hành động của cá nhân đó.

 

Groupthink, trong khi đó, chỉ xảy ra ở những nhóm mà thành viên có mối liên hệ hết sức chặt chẽ với nhau nên các ý kiến trái chiều (dù đến từ cá nhân hay một nhóm khác, trong nhóm, hay ngoài nhóm) đều bị loại bỏ nhằm duy trì sự thống nhất hay tính gắn kết của các thành viên trong nhóm.

 

Áp lực nhóm (Peer pressure hoặc Social pressure) khác so với Tư duy tập thể (Groupthink) ở chỗ:

 

Thứ nhất, bản thân trong khái niệm áp lực nhóm, chính người có ý kiến khác với đa số không hẳn là người thuộc nhóm đó. Do vậy nhóm không cần phải đoàn kết như ở Groupthink.

 

Thứ hai, về mặt tính chất, vì người đó muốn giống với tập thể (con người luôn muốn có tâm lí bầy đàn) và vì người đó tự thuyết phục bản thân mình rằng “nhiều người sẽ biết nhiều hơn một người”.

 

Và hơn nữa là, peer pressure giảm đi hoặc tự động biến mất nếu như lựa chọn “mang tính thiểu số” có thêm người ủng hộ trong khi đó điều này hoàn toàn không đúng với Groupthink. Nhóm A (nếu đã là nạn nhân của Groupthink), thì khó có thể nghe theo ý kiến của nhóm đối lập bên ngoài B, mặc dù nhóm B có số lượng người đông hơn chẳn hạn.

 

Cho nên có thể nói rằng, Peer pressure là một trong những yếu tố tạo nên Groupthink (Trong groupthink, có nhiều yếu tố khác như áp lực thời gian, ảo  tưởng về sức mạnh của nhóm hay  ảo tưởng về sự thống nhất trong nhóm, vv)

 

  1. Phân biệt kỹ hơn giúp mình groupthink và herd mentality.

 

Như đã đề cập ở trên Herd Mentality (tâm lí bầy đàn), là hiện tượng mà hành vi của con người bị ảnh hưởng bởi hành vi của những người xung quanh. Tâm lí bầy đàn, chính là nguyên nhân sâu xa của tâm lí tập thể và áp lực nhóm, và một số hiện tượng tâm lí khác nữa. Áp lực nhóm, là áp lực mà nhóm tác động lên cá nhân, làm thay đổi hành vi, suy nghĩ, hành động của cá nhân đó.

 

Như vậy, áp lực nhóm chính là nguyên nhân gây ra tâm lí bầy đàn. Nói cách khác, tâm lí bầy đàn ám chỉ sự phản ứng của các cá thể đối với áp lực nhóm do sợ “bị bỏ rơi”. Cho nên cá thể tự động điều chỉnh hành vi của mình để giống với đám đông vì khi đó, cá thể có cảm giác được an toàn-một trong những nhu cầu cơ bản của con người trong tháp Maslow.

 

IV/ Kết luận:

Tinh thần nhóm là tốt, sự đoàn kết cao trong nhóm là tốt, tuy nhiên đừng để cho ý muốn thống nhất trong nhóm triệt tiêu mất sự cá biệt của từng cá nhân. Khi đó sự đa dạng trong nhóm sẽ không còn nữa, tính tư duy độc lập, sự sáng tạo của từng cá nhân cũng sẽ bị triệt tiêu và  nhóm sẽ dần mất đi “tính đề kháng” đối với những yếu tố bên ngoài, dẫn đến việc đưa ra những quyết định sai lầm.

Nguồn tham khảo:

PGS.TS. Bùi Anh Tuấn và  PGS.TS. Phạm Thúy Hương, 2009. Giáo trình Hành vi tổ chức. Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân.

Wikipedia,  2016, “Groupthink”https://en.wikipedia.org/wiki/Groupthink, ngày truy cập 24/3/2016

 

Irving Janis, “Groupthink among Policy Makers”, http://pirate.shu.edu/~mckenndo/ethics-Groupthink-Janus%20article.htm, ngày truy cập 24/3/2016

Sherri Hartzell , Groupthink: Definition & Examples,

<http://study.com/academy/lesson/group-think-definition-examples.html>, ngày truy cập 24/3/2016

Triaxiaparters, “Too Much Team Too Little thinking”, < https://triaxiapartners.com/too-much-team-too-little-thinking/>, ngày truy cập 24/3/2016

Communicationstudies,Groupthink”, http://www.communicationstudies.com/communication-theories/groupthink, ngày truy cập 24/3/2016

Mindtools, “Advoiding Groupthink”, <https://www.mindtools.com/pages/article/newLDR_82.htm>, ngày truy cập 24/3/2016

 

[i] Nghiên cứu của Solomon Asch: “Asch lập ra các nhóm gồm 7-8 người ngồi trong  một lớp học. Các nhà nghiên cứu yêu cầu những người này so sánh hai hình vẽ với nhau. Hình vẽ đầu có một vạch kẻ và hình vẽ thứ hai có ba vạch kẻ với độ dài khác nhau (xem hình)

Hình: Các hình vẽ được sử dụng trong nghiên cứu Asch

 

 

Một trong những vạch kẻ trong hình vẽ thứ hai giống hệt với vạch kẻ trong hình vẽ thứ nhất. Sự khác biệt về độ dài vạch kẻ rất rõ ràng và điều đó có thể nhận thấy bằng mắt thường. Các nhà nghiên cứu yêu cầu đối tượng tham gia thử nghiệm nói thật to vạch kẻ nào trong số ba vạch kẻ giống với vạch kẻ duy nhất của hình vẽ kia. Thông thường, độ sai sót của các thử nghiệm kiểu này ở mức dưới 1%.

 

Asch muốn biết liệu các áp lực của nhóm có khiến một đối tượng thử nghiệm sửa lại câu trả lời của mình để giống với những người  khác không. Asch đã bố trí nhóm sao cho chỉ có những người trong nhóm thử nghiệm không nhận thức được rằng cuộc thí nghiệm này đã được “sắp đặt trước”. Ghế ngồi được sắp xếp sao cho các đối tượng thử nghiệm là người cuối cùng phải nói ra nhận xét của mình.

 

Lần thử nghiệm đầu tiên, tất cả các đối tượng thí nghiệm đều đưa ra câu trả lời đúng. Và lần thử nghiệm thứ hai, người đầu tiên đưa ra một câu trả lời sai, chẳng hạn người đó nói rằng vạch C giống với vạch X. Người tiếp theo cũng đưa ra một câu trả lời sai y hệt như vậy, và những người khác cũng thế cho đến khi đến lượt đối tượng thử nghiệm. Anh ta biết rằng “B” là giống với “X”, song mọi người lại nói rằng đó là “C”. Kết quả mà Asch thu được cho thấy rằng có 35% các đội tượng thử nghiệm đưa ra những câu trả lời mà họ đã biết là sai nhưng lại nhất quán với những câu trả lời của các thành viên khác trong nhóm.

 

Kết quả thử nghiệm cho phép kết luận rằng có những chuẩn mực nhóm buộc các cá nhân phải tuân theo. Có thể nói rằng khi quan điểm của một cá nhân về các dữ kiện khách quan khác với quan điểm của những người khác trong nhóm, anh ta thường cảm thấy bị áp lực buộc phải nêu ra quan điểm của mình sao cho  phù hợp với quan điểm của những người  khác.

 

Với tư cách là thành viên của một nhóm, nếu  muốn được nhóm tiếp tục chấp nhận, các cá nhân phải là người tuân thủ các chuẩn mực của nhóm. Có rất nhiều bằng chứng cho thấy rằng các nhóm có thể có áp lực buộc các thành viên phải thay đổi thái độ và hành vi của mình cho phù hợp với chuẩn mực của nhóm.”(Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hương, 2009)

 

 

 

 

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *