Leave a comment

Thiết chế Giáo dục – Tôn giáo trong lịch sử Do Thái vào thời kỳ Cổ Trung Đại (12/04/2015)

Thời gian: 18:30 – 21:30 ngày 12/04.2015

Địa điểm: Trà sữa Thaoni, 262 D5, phường 25, Bình Thạnh

Người thực hiện đề tài: Nguyễn Thùy Trang- sinh viên Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp.HCM

Người hướng dẫn: Thạc sỹ Nguyễn Thanh Tùng- Giảng viên Đại học Hoa Sen

A/ Trình bày của Trang

DSCF1410

I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1. Khái niệm

  • Thiết chế: hệ thống các quan hệ ổn định, tạo nên một loạt các khuôn mẫu xã hội biểu hiện sự thống nhất được xã hội công khai thừa nhận nhằm mục đích thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của xã hội.
  • Thiết chế giáo dục: hệ thống các quy tắc, chuẩn mực, cách thức tổ chức các hành vi, hoạt động nhàm đáp ứng nhu cầu học tập của xã hội.
  • Thiết chế giáo dục – tôn giáo: là sự hợp tác giữa thiết chế giáo dục và các đặc trưng trong thiết chế tôn giáo nhằm phục vụ cho nhu cầu của một xã hội nhất định.

2. Thuật ngữ

  • Abraham: người cha cao quý, vâng lệnh Thượng Đế, người Thiên Chúa tuyển chọn (Gen 17:5)
  • Issaac: con trai của Abraham
  • Israel: Tên thánh của Jacob
  • Judah: tên con trai của Jacob; vương quốc Judah với kinh đô là Jerusalem ở phía nam, kết quả của sự chia cắt đế quốc Israel ra làm hai sau khi hoàng đế Solomon chết.
  • Phân biệt Hebrew, Israelite, và Jew
  1. Hebrew (tiếng Hebrew là Ivri):

Từ Hebrew được dùng lần đầu trong kinh Torah để chỉ khối cư dân theo tộc trưởng Abraham xâm nhập vào vùng đồng bằng Cnaan (hay đồng bằng Palestine)(Gen 14:13). Từ Hebrew xuất phát từ “eyver”, có nghĩa là “ở phía bên kia”, tức ám chỉ nhóm người từ Ur-phía bên dòng sông Euphrates đến.

  1. Israelite: chỉ toàn bộ hậu duệ của Abraham từ khi xuất hiện 12 bộ lạc Israel – là con cái của Jacob/Israel
  2. Jew: thông thường thì từ dùng để chỉ toàn thể hậu duệ của Abraham .Jew (tiếng Hebrew là Yehudi) bắt nguồn từ chữ Judah, tên con trai của Jacob/Israel

Jew/Yehudi ban đầu dùng để chỉ bộ lạc Judah để phân biệt với 11 bộ lạc còn lại. Khi Hoàng đế Solomon chết, vương quốc Israel bị chia làm hai:

  • Vương quốc Judah với kinh đô là Jerusalem và vương quốc Israel là Samaria
  •  Vương quốc Israel ở phía Bắc mất đi danh tính Do Thái khi vua Jeroboam cải đạo sang đa thần giáo.

–> Chỉ còn những bộ lạc trong vương quốc Judah tiếp tục duy trì di sản của Abraham để lại. Do vậy, Jew/Yehudi vẫn dùng để chỉ người của vương quốc này.

Nhận dạng người Do Thái trong các giai đoạn tiếp theo:

  • Thời kỳ Đền thờ II (515BC – 70): người Do Thái là những người theo các giáo phái mang chung 3 đặc điểm chính: tin vào một Thiên Chúa duy nhất; mọi mặt đời sống được định hình bởi Kinh Torah; tập tục cắt bao quy đầu, ăn kiêng, nghỉ ngày Sabbath.
  • Thời kỳ kinh Mishna ra đời đến nay: người Do Thái là những người sống, học tập, nghiên cứu kinh Torah cũng như cho con trai đi học kinh Torah, việc không tuân thủ sẽ khiến họ bị gạt khỏi xã hội Do Thái.

3. Tiến trình lịch sử Do Thái

1.        Thời kỳ truyền thuyết  l  Hành trình của khối cư dân du mục từ Ur sang phía Tây và định cư tại đồng bằng Palestine tộc trưởng Abraham dẫn dắt
2.        Thời kỳ tộc trưởng  l  Hình thành tổ chức nhà nước sơ khai, đứng đầu là Abrahaml  Hình thành 12 chi phái Israel từ 12 chi tộc con trai của Jacob/Israel (12 Israelite tribes)–> Nhà nước Israel sơ khai
3.        Thời kỳ nô lệ  l  Người Do Thái rời khỏi Miền đất hứa và định cư ở Ai Cập. Tại đây Pharaon bắt dân Do Thái làm nô lệl  Hoàng tử Ai Cập Moses đã đưa dân Do Thái trở về cố hương sau khi nhận được mặc khải của Thiên Chúa.l  Moses nhận 10 Điều răn từ Đấng Tối cao tại núi Sinai –> thời điểm xuất hiện đạo Do Tháil  Vùng Cnaan bị các bộ lạc khác xâm chiếm, người Do Thái chiến đấu để giành lại vùng đất này.
4.        Thời kỳ thống nhất  l  Năm 1052 Saul trở thành thủ lĩnh đầu tiên của nhà nước Do Thái thống nhấtl  Năm 1003, David lên làm vua, xây dựng Jerusalem.l  Năm 970, vua David mất, Solomon trở thành hoàng đế và cho xây dựng Đền thờ thứ nhất tại Jerusalem
5.        Thời kỳ phân ly  Thời kỳ Đền thờ thứ nhất (thế kỷ 10 BC – năm 586 BC): Solomon chết, đế quốc chia làm hai. Thời kỳ này, Đền thờ thứ nhất ở Jerusalem là trung tâm thực hành tín ngưỡng. Năm 586 BC, quân Babylon đã phá hủy Đến thờ I và lưu đày người Do Thái sang Babylon –> Kết thúc thời kỳ Đền thờ I ,Kinh Torah, các học giả, nhà tôn giáo, hiền triết ngày càng thể hiện vai trò của mìnhThời kỳ Đền thờ II (515 BC – năm 70)l  Năm 538 BC: Ba Tư chinh phục Babylon, giải phóng cho người Do Thái trở về cố hương Judah và cho xây dựng Đền thờ II tại Jerusalem Đền thờ II khánh thành vào năm 515 BC bắt đầu Thời kỳ Đền thờ II.l  Israel lần lượt bị cai trị bởi Alexander Đại đế (Hy Lạp), vương triều Plotemy (Ai Cập) và vương triều Seleucid (Hy Lạp).l  Năm 66 TCN, người Do Thái tiến hành cuộc Đại nổi dậy chống lại sự cai trị của người La Mã. Năm 70 cuộc chiến kết thúc, Đền thờ thứ hai bị phá hủy–> nhà nước Do Thái mất tên trên bản đồ, người Do Thái bắt đầu tha hương.

 II. THIẾT CHẾ GIÁO DỤC – TÔN GIÁO DO THÁI TRONG THỜI KỲ CỔ TRUNG ĐẠI

  1. Bối cảnh ra đời

Thời kỳ Đền thờ II (năm 515 BC – năm 70) và sự cạnh tranh tôn giáo

Khoảng từ năm 300 BC – năm 65, hình thành nhiều giáo phái cạnh tranh với nhau

Trong cuộc Đại nổi dậy từ năm 66 – 69 của người Do Thái chống lại người La Mã (Cuộc chiến tranh Do Thái – La Mã lần thứ nhất), cán cân quyền lực giữa các giáo phái thay đổi:

Sadducee chi phối hoạt động tín ngưỡng trong Đền thờ – mất của cải và quyền lực. Họ gồm tầng lớp giàu có, quyền quý. Quyền lực của họ gắn chặt với tín ngưỡng đền, họ chi phối hoạt động lễ nghi, hiến sinh. Kinh Luật mới có giá trị với họ
Zealot và Sicarii phe ủng hộ nổi dậy chiến đấu với quân La Mã – bị tiêu diệt
Essene giáo phái theo đường lối công xã khổ hạnh, không có địa vị kinh tế, chính trị
Pharisee các học giả, các nhà hiền triết – không tham gia và cuộc chiến nên sống sót và trở thành lãnh tụ tôn giáo.

 

Giáo phái Pharisee

– Bối cảnh ra đời: sau cuộc nổi dậy chống triều Seleucid Hy Lạp (165 -160 TCN)

– Thành phần: học giả, các nhà hiền triết, tự xưng là con cháu vua David 

– Gắn liền với kinh Torah, tin vào cả Kinh Luật và Khẩu Luât, bảo vệ giá trị truyền thống Do Thái giáo cương quyết nhất, phản đổi ảnh hưởng của Hy Lạp

– Tư tưởng giáo lý: Chúa có khắp mọi nơi; coi việc học, nghiên cứu, truyền bá lời Chúa là sứ mệnh tối cao –> xây dựng giáo đường làm nơi thờ cúng; thay thế các nghi lễ đền thờ và lễ hiến sinh thành việc học, nghiên cứu Kinh Thánh, khiến thế độc tôn của Đến thờ bị phá vỡ.

– Năm 70 SCN, giáo phái Pharisee tái thiết thành Do Thái giáo Dòng giáo sỹ.

=> cạnh tranh giữa các giáo phái tạo điều kiện cho thiết giáo dục tôn giáo Do Thái phát triển- đòn bẩy cho sự phát triển chung của dân tộc Do Thái sau này.

 

  1. Những đặc trưng cơ bản của thiết chế giáo dục tôn giáo Do Thái
  • Đối tượng phục vụ: người Do Thái
  • Chứa đựng các giá trị cơ bản, chuẩn mực, quy tắc, khuôn mẫu mà người Do Thái cùng chia sẻ: thế giới quan độc thần; tư tưởng duy vật biểu hiện ở điểm cho rằng dân tộc Do Thái là dân tộc được Chúa lựa chọn; tính khép kín về mặt dân tộc;…
  • Các mối quan hệ, các khuôn mẫu hành vi bền vững, trở thành truyền thống văn hóa của người Do Thái, thể hiện rõ qua các bộ luật: Mười điều răn, Torah (hay còn gọi là Kinh Luật/ Ngũ Kinh/Lề Luật), bộ luật Talmund.
  • Chiếm vị trí trung tâm trong xã hội, có tầm bao quát và ảnh hưởng đến các lĩnh vực khác. như kinh tế, dân số,…Do vậy một sự thay đổi trong các quy định của thiết chế sẽ ảnh hưởng lớn đến các lĩnh vực khác

Năm 63-65 Thực hiện giáo dục bắt buộc

Đại tư tế Joshua Ben Gamla ban hành sắc lệnh tôn giáo yêu cầu tất cả các ông bố Do Thái phải gửi con trai từ 6-7 tuổi tới trường tiểu học

Tuy nhiên, sự cạnh tranh giữa các nhóm + chiến tranh Do Thái – La Mã –> không hiệu quả

Năm 70 Đền thờ II bị phá hủy:

– Quyền lực giữa các nhóm thay đổi.

– Giáo phái ,Pharisee tái lập thành Do Thái giáo Dòng giáo sỹ

– Học viên Jerusalem được thành ập ở Jabneh, Khẩu luật không ngừng phát triển

Năm 200 Kinh Mishna ra đời

Giáo sỹ Judah haNasi biên soạn Mishna (6 tập)

  • Mô hình giáo dục chính quy của người Do Thái

 

  1. Mô hình giáo dục chính quy của người Do Thái

Đặt người thất học ra khỏi xã hội Do Thái.

Mọi người đều phải đọc và nghiên cứu kinh Torah, gửi con trai đến trường.

–> trong bối cảnh xã hội nông nghiệp tự túc Do Thái, mô hình này không mang lại lợi ích kinh tế.

Kết quả: Năm 600 dân số giảm, tỉ lệ biết chữ tăng

–> lợi thế cho người Do Thái trong giai đoạn tiếp theo

Người Do Thái trong Đế chế Hồi giáo (> 5 thế kỷ)

  • Người Do Thái có cuộc sống ổn định trong đế chế Hồi giáo.
  • Cấu trúc nghề nghiệp: nông dân chuyển sang nghề đòi hỏi tay nghề.
  • Cư trú: nông thôn đến các thành thị; dư dân khắp đế chế rộng Hồi giáo rộng lớn

Từ năm 750 – 900 (thời kỳ vàng son trong đế chế Hồi giáo):

Sự phát triển rực rỡ về khoa học, công nghệ, khoa học xã hội và nghệ thuật trong đế chế Hồi giáo xuất hiện của nhiều ngành nghề đòi hỏi tay nghề cao.

 –> Người Do Thái đã tận dụng được cơ hội nghề nghiệp trước các nhóm sắc tộc khác

 

  1. Vai trò của thiết chế giáo dục tôn giáo đối với lịch sử Do Thái

– Tạo dựng đức tin đồng nhất; thúc đẩy sự gắn kết chặt chẽ trong cộng đồng xã hội Do Thái

– Chuẩn bị cho các cá nhân họ quen dần với các giá trị xã hội

– Kiểm soát và điều chỉnh các hành vi trong cộng đồng Do Thái

– Chuẩn bị cho dân Do Thái các kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp

B/ Thảo luận

DSCF1403

Q: Kinh Torah và Kinh Tamund là khác nhau?

A: Khác nhau. Kinh Torah gồm 5 cuốn sách đầu tiên trong kinh Cựu ước (gồm Torah, Tiên tri, Thánh trước). Kinh Torah còn được người Hy Lạp gọi là Ngũ kinh, gồm 5 quyển: Sáng thế, Xuất hành, Levi, Dân số và Đệ nhị luật. ; được viết tay bằng chữ cái Hebrew; hướng dẫn về đạo đức lối sống, lề luật, cách hành xử, luật hiến tế,…

Tamund là bộ luật gồm Mishna và Gemera:

  • Mishna (gồm 6 cuốn) do giáo sĩ Judah haNasi tổng hợp biên soạn và hoàn thành vào khoảng năm 200
  • Gemara là các chú giải chủ yếu về Mishna do các thế hệ học giả và giáo sĩ ở các học viện ở Xứ Israel và Mesopotamia viết.

Q: Đâu là nguyên nhân khiến số lượng dân Do Thái ít ?

A: Có 2 nguyên nhân chính: sự cải đạo và việc thảm sát.

  • Sự cải đạo: Từ khi kinh Mishna ra đời những năm 200, Đạo Do Thái có sự đòi hỏi khắt khe trong việc đọc và nghiên cứu kinh sách đối với mọi người theo đạo. Việc nghiên cứu, học tập có tính bắt buộc chiếm nhiều thời gian cho sản xuất kinh tế và đòi hỏi sự kiên trì, kỷ luật đã khiến những người không đủ điều kiện kinh tế hoặc đức tin cải đạo.
  • Việc thảm sát: như đã biết, từ xưa đến nay lịch sử dân tộc Do Thái luôn gắn liền với các cuộc thảm sát.

Q: Vai trò của 10 điều răn của Moses đối với sự phát triển của Do Thái?

A: 10 điều răn của Moses là nền tảng đầu tiên của học thuyết Do Thái giáo, cơ sở hình thành Kinh Torah và Kinh Tamund. 10 điều răn là học thuyết xuyên suốt của Do Thái giáo, việc tuân thủ lề luật này là chất keo gắn kết trong mọi hành xử của người Do Thái. Sự thống nhất trong các giá trị, cách hành xử của người Do Thái chính là điều kiện giúp dân tộc Do Thái phát triển thuận lợi.

10 điều răn của Moses đề cập đến mối quan hệ giữa con người với Chúa trời- chỉ có một Đức Chúa duy nhất, mối quan hệ giữa con người với con người và những quy tắc hành xử:

Nội dung chính của Mười điều răn:

  1. Ta là Thiên Chúa của ngươi.
  2. Ngươi không có Thiên Chúa nào khác ngoài Ta; ngươi không được tạc hình vẽ tượng để thờ.
  3. Ngươi không được dùng danh thánh Chúa một cách bất xứng.
  4. Ngươi phải giữ ngày Sabbath.
  5. Tôn kính cha mẹ.
  6. Ngươi không được hãm hại người khác.
  7. Ngươi không được trộm cắp.
  8. Ngươi không được làm chứng dối.
  9. Ngươi không được chiếm đoạt vợ của người khác.
  10. Ngươi không được ham muốn chiếm đoạt của cải của người khác.

Q: Đâu là sự tự do tôn giáo của người Do Thái trong bối cảnh có nhiều giáo phái, nhiều tôn giáo cạnh tranh nhau?

A: Người Do Thái luôn có sự tự do tôn giáo trong việc lựa chọn giữa các giáo phái Do Thái giáo (Sadducee, Zealot và Sicarii, Essene hoặc Pharisee). Trong nhiều trường hợp không thể theo được sự khắt khe của Do Thái giáo phái Pharisee, người Do Thái có quyền cải đạo sang tôn giáo khác như Kito giáo. Dưới góc độ Do Thái giáo, con người hoàn toàn tự do trong việc lựa chọn tôn giáo cũng như các lựa chọn khác của mình- và họ chịu trách nhiệm cho các quyết định này mà không bị đưa ra bất kỳ hình phạt nào.

Q: Vì sao Do thái giáo (Do Thái dòng Giáo sỹ) có sự bắt buộc trong việc nghiên cứu kinh sách- đặc biệt đối với con trai?

A: Có 2 lý do: (1) để duy trì, bảo toàn những giá trị của tôn giáo qua các thế hệ thì việc giáo dục qua học tập, nghiên cứu kinh sách cho trẻ nhỏ là cần thiết và (2) sự cần thiết này quy định hóa trở thành bắt buộc (thông qua Kinh Mishna) cũng nhằm duy trì sự ảnh hưởng của Do Thái giáo dòng Giáo sỹ lên người Do Thái trong bối cảnh có sự cạnh tranh giữa các giáo phái.

Q: Đâu là lý do khiến việc bắt buộc nghiên cứu kinh sách được duy trì trong xã hội Do Thái?

A: Việc đọc và nghiên cứu kinh sách cũng như việc dân Do Thái giao tiếp với Thiên Chúa của mình. Để hiểu biết được ý muốn của Chúa đối với dân tộc mà Người lựa chọn, người Do Thái (giáo phái Pharisee) đã ý thức được tầm quan trọng của việc học lề luật của Người, chỉ có làm theo lề luật trong kinh sách mới khiến họ tránh khỏi nguy cơ rời xa Người như vương quốc Israel (thời chia cắt với Judah) đã phạm phải. Ngoài ra, Xuất phát từ lịch sử bị đánh đuổi ly tán khắp thế giới, người Do Thái nhận ra được giá trị của kiến thức- thứ duy nhất có giá trị để mang theo trên hành trình. Đặc biệt ở giai đoạn đầu, những kiến thức và giá trị của đạo Do Thái đã có cho họ khả năng học tập, đọc và làm toán, làm việc tốt hơn các dân tộc cùng thời. Nền tảng này giúp họ tích lũy thêm nhiều kiến thức nhân loại trong suốt chiều dài lịch sử. Nhờ những lợi ích có được từ việc nghiên cứu kinh sách mà dân tộc Do Thái được mệnh danh là dân tộc thông thái.

Q: Có sự độc lập trong giáo dục tôn giáo và giáo dục kiến thức trong xã hội Do Thái hay không?

A: Không và Có.

Không: đối xã hội Do Thái trước kia (đặc biệt thời kỳ li tán) thì việc giáo dục tôn giáo và giáo dục kiến thức là đồng nhất. Các giáo đường mọc lên nhằm đưa trẻ nhỏ học tập, nghiên cứu kinh sách- đồng thời các kiến thức khác cũng được dạy thêm. Các giáo sỹ dạy học trò trong giáo đường và được trả tiền bởi cha mẹ.

Có: đối với xã hội Do Thái hiện đại khi nhà trường tách rời nhà thờ (kể cả ở Isarel lẫn các nước có người Do Thái sinh sống) thì hai hệ thống giáo dục này độc lập với nhau và phát triển song song. Ngoài nhà trường dân sự, Giáo đường, còn tồn tại loại trường học đào tạo người Do Thái trở thành giáo sỹ.

Q: Đâu là lý do khiến người Do Thái vẫn duy trì được sự ưu việt của họ khi lợi thế từ xưa trong khả năng đọc-viết, làm toán so với các dân tộc khác không còn?

A: Nhờ truyền thống và sự giáo dục gia đình dựa theo lề luật kinh sách được giữ gìn. Theo lịch sử phát triển của mình, người Do Thái đã tạo ra được môi trường xã hội, gia đình tôn trọng các giá trị Do thái, kiến thức, giáo dục cũng như tính cá nhân. Môi trường truyền thống này cho người Do Thái được phát triển toàn diện về cả tâm, trí và sự độc lập. Bên cạnh đó hệ thống giáo dục tạo được nền tảng về kiến thức, kỹ năng hoàn chỉnh cho mỗi cá nhân. Ví dụ: trẻ em Do Thái được học Cựu ước, Mishna; tuổi trưởng thành người Do Thái đi nghĩa vụ quân sự và học về kỹ năng lãnh đạo, kinh doanh…

Q: So sánh truyền thống giáo dục của Do Thái và của Việt Nam có gì khác biệt?

A: Ở dân tộc Do Thái, sự giáo dục có sự phát triển và đồng nhất dựa trên các giá trị của đạo Do Thái. Ở Việt Nam không có được sự đồng nhất này do có sự chồng chéo giá trị Việt Nam truyền thống, những giá trị do ảnh hưởng từ Trung Hoa, sự du nhập văn hóa khác…  từ đó tạo môi trường xã hội, truyền thống không thuần nhất về giá trị, điều này ảnh hưởng lớn đến việc giáo dục con em. Ngoài ra, hệ thống giáo dục chính quy của nhà trường tại Việt Nam không có sự liên can của yếu tố tôn giáo, chỉ những gia đình theo đạo mới giáo dục con cái các giá trị của tôn giáo trong phạm vi gia đình.

Q: Văn hóa tranh luận của người Do Thái, và đâu là sự khác biệt của cách giáo dục tôn giáo Do Thái với các tôn giáo khác?

A: Văn hóa tranh luận của người Do Thái được hình thành từ lâu trong giáo dục tôn giáo Do Thái. Người Do Thái đến Thánh đường để học, nghiên cứu kinh sách thông qua sự tranh luận về Kinh Torah. Bản chất Kinh Torah là những luật lệ phản ánh đời sống trong xã hội Do Thái. Do vậy, việc tuân thủ tôn giáo không chỉ dựa vào đức tin hay tự chiêm nghiệm cá nhân, mà có sự tranh luận về kinh sách cùng nhau để hình thành nên đức tin và sự chiêm nghiệm các giá trị trong kinh Torah. Suốt hàng thế kỷ, người Do Thái trong quá trình tranh luận về các luật lệ, quy tắc ứng xử trong đời sống thế tục. Qua đó, họ không ngừng củng cố và xây dựng luật pháp, điền hình là sự ra đời của bộ luật Talmund năm 200.

Đây là điểm đặc biệt trong giáo dục tôn giáo Do Thái so với tôn giáo khác. Cách giáo dục trên của Do Thái giáo khẳng định một điều: các giá trị của các tôn giáo đa phần giống nhau (đều hướng tới giá trị tốt đẹp) song điều quan trọng là cách giáo dục như thế nào đề người theo đạo sống theo các giá trị đó. Và Do Thái giáo đã làm được điều như vậy.

Q: Nguồn gốc của biểu tượng ngôi sao David của Do Thái giáo từ đâu?

A: Ngôi sao David được cho là hình ảnh mô tả hình dáng của tấm khiên hoặc biểu tượng trên tấm khiên thời vua David sử dụng. Điểm độc đáo ở ngôi sao chính là sự trùng khớp khi xếp bảng chữ cái Hebrew (đã có từ trước) vào đường viền ngôi sao David.

Q: Đâu là sự khác biệt giữa các khái niệm Thiên chúa giáo, Kito giáo, Do Thái giáo?

A: Theo nghĩa rộng, Thiên chúa giáo là tên gọi các tôn giáo độc thần, đặt niềm tin vào sức mạnh toàn năng của một Đấng Tối cao duy nhất. Kito giáo tôn giáo tin vào đức Thiên chúa toàn năng là đức Kito, còn Do Thái giáo như đã biết. Như vậy khái niệm Thiên chúa giáo bao hàm khái niệm Kito giáo, Do Thái giáo và cả Hồi giáo. Tại Việt Nam, ta hay dùng thuật ngữ Thiên Chúa giáo để ám chỉ Công giáo.

DSCF1401

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *