Leave a comment

Những Khuynh hướng tiếp cận Diễn Ngôn trong Nghiên cứu Nhân Học

Diễn giả: Thạc sỹ Nguyễn Quang Huy, viện phát triển giáo dục Đại học Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

Poster chương trình

Ghi âm: http://bit.ly/ghi-am-dien-ngon-nhan-hoc

Hình ảnh chương trình: https://flic.kr/s/aHsm1QjxES

Anh Huy: Nội hàm đa dạng và phong phú, xin được giới hạn nội hàm về diễn Ngôn trong nghiên cứu Nhân học.

  1. Diễn ngôn – Discourse – là gì?

Diễn ngôn là gì?

_ Theo quan điểm ngôn ngữ học: ngôn ngữ trên câu hoặc mệnh đề, nhánh ngôn ngữ bằng lời rộng hơn một câu, thường cấu thành một đơn vị thống nhất; nhánh ngôn ngữ tri nhận mang tính thống nhất và mục đích.

Trong xã hội: xem diễn ngôn như thực hành xã hội được quyết định bằng những cấu trúc xã hội.

_ Theo Michel Foucault, triết gia theo xu hướng hậu hiện đại, có nghiên cứu sâu về diễn ngôn, 2 tác phẩm chính:

  •       Năm 1969: Thực thể của những chuỗi, những ký hiệu, mà qua đó chúng được phát ngôn (Foucault, 1969) -> tương đối khó hiểu và thiên về mặt ngôn ngữ.
  •       Năm 1977 Trung giới thông qua mối quan hệ quyền lực sản xuất chủ thể phát ngôn nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa quyền lực/tri thức (Foucault, 1977) chuyển từ nghiên cứu ngôn ngữ học sang quan hệ trong xã hội, từ đó ông có tác phẩm “Khảo cổ học về mặt tri thức”.
  •       Hệ thống tư tưởng được kết hợp từ ý kiến, thái độ, hành động, niềm tin, thực tiễn cấu trúc nên chủ thể và thế giới mà họ phát ngôn (Iara Lessa, 2006) -> tập hợp ý kiến của con người về mặt thái độ, ý kiến, niềm tin thành ra diễn ngôn.

_ Cấu hình diễn ngôn:

  •       Mô tả phương thức giao tiếp quyết định cách sản xuất diễn ngôn.
  •       Phi giao tiếp, giao tiếp chính thức, Foucault áp dụng khái niệm này để phân tích các bộ phận rộng lớn của tri thức liên quan đến kinh tế chính trị, lịch sử tự nhiên v.v… (Foucault, 1970).

_ Đặc trưng của diễn ngôn:

  •        Quy trình gồm 3 bước sản xuất-tiêu thụ-giám sát bởi người sản xuất diễn ngôn và người tiếp nhận diễn ngôn.
  •       Định hình bởi cấu trúc xã hội (các định chế và thiết chế xã hội), thông qua những định kiến xã hội quy định con người phải làm gì, cư xử ra sao.
  •       Mang hàm ý xã hội.
  •       Có giá trị và điều hành mang tính xã hội thông qua qui trình sản xuất-tiêu thụ-giám sát.

Trong nghiên cứu hiện nay đã tiến lên nghiên cứu 2 chiều về diễn ngôn.

  •       Ví dụ về diễn ngôn

o   Diễn ngôn về thực phẩm “thức ăn lành mạnh” <-> biểu thị: thực hành xã hội “lối sống lành mạnh” => không chỉ gói gọn trong mặt câu chữ mà là cả thực hành xã hội.

  1. Những khuynh hướng tiếp cận:

_ Tập trung vào ngôn ngữ, mang tính phổ quát, mang tính phân tích quy luật trong giao tiếp.

_ Tập trung vào mối quan hệ giữa ý thức hệ – quyền lực, mang tính nhân học, tiếp cận thông qua:

  •       Hậu hiện đại – Post modernism: không được khứ từ tính cảm xúc, sự phản ứng lại với chủ nghĩa hiện đại duy lí, đặt nặng tính toán, chiến lược, dẫn đến phân hóa xã hội, tôn sung quyền lực. Tham khảo Jean Lyotard “Hoàn cảnh hậu hiện đại” – NXB Tri Thức
  •       Hậu cấu trúc – phản ứng với lí thuyết cấu trúc.
  •       Lý thuyết Marxist
  • Ví dụ:

Diễn ngôn trong Khoa học, “Trứng và tinh trùng: Cách mà khoa học kiến tạo nên câu chuyện hư cấu dựa trên vai trò khuôn đúc giữa nam giới và nữ giới” , trong đó Trứng và Tinh trùng biểu thị nam giới và nữ giới, ngôn ngữ mà các nhà khoa học dùng để miêu tả vai trò nam giới và nữ giới trong xã hội hiện nay. Nam giới trong xã hội phương Tây thường đại diện cho sức mạnh, gán liền với các động từ “kích hoạt”, “sản xuất”, sự chủ động; trong khi đó nữ giới gắn liền với “trôi dạt”, “phí phạm”.

Hình ảnh Hoàng tử và công chúa Lọ Lem, trước khi kết hôn thì rất vui vẻ, nhưng sau khi kết hôn thì người ôm con là công chúa, hình ảnh đối lập và mang tính không công bằng.

Có thể liên tưởng đến hình ảnh công chúa rơi vào giấc ngủ sâu đợi người nam giới đến để giải cứu, thông qua đó là một hình ảnh phái yếu rất thụ động.

 

_ Diễn ngôn trong truyền thông, thập niên 70 và 80 qua các nghiên cứu của Hall, Gerbner, Berelson v.v… “Truyền thông được định nghĩa như là một lực mang tính văn hóa và ý thức hệ, đứng ở vị trí thống trị với phương thức mà qua đó những mối quan hệ xã hội và những vấn đề chính trị được xác định và sản xuất hoặc chuyển hóa những ý thức hệ đại chúng đến với những tầng lớp khán giả” (Hall, 1980)

Diễn ngôn như một kênh trung giới mang ý thức hệ, truyền đến khán giả.

  •       Trong quảng cáo, ví dụ như quảng cáo: Về vai trò của người phụ nữ trong các quảng cáo sản phẩm dành cho công việc gia đình: máy giặt, bột giặt, dầu ăn, dụng cụ nấu nướng, làm bếp v.v…

Khán giả cho ý kiến: người phụ nữ thường làm công việc nội trợ, nhân vật nữ sắp lấy chồng thì phải đi học nấu ăn, người mẹ là người truyền kinh nghiệm để gìn giữ hạnh phúc gia đình, muốn chồng về nhà thì phải có bữa ăn ngon -> diễn ngôn về giới: người phụ nữ là người gìn giữ hạnh phúc nấu ăn. Trách nhiệm của người đàn ông là đảm bảo tài chính cho gia đình.

Anh Huy chia sẻ về một bộ phim Hàn Quốc về những người chồng quyết định ở nhà cho vợ đi làm kiếm tiền để bị các ông sếp và hàng xóm chê cười. Anh Huy nghĩ rằng chồng vẫn có thể phụ giúp gia đình chứ đừng ngồi xem tivi hay đọc báo.

  •       Trong hình ảnh, phim ảnh:

Nghiên cứu Yoshikata Mori “Bản tình ca mùa đông và thực hành văn hóa của những người hâm mộ tích cực ở Nhật Bản: Nhìn nhận những phụ nữ trung niên như là những tác nhân văn hóa”.

“Làn sóng Hàn Quốc” xâm nhập vào văn hóa Nhật Bản và thu hút số đông khán giả nữ trung niên.

Những khán giả nữ trung niên thường được xem như là những nhóm “ngoài lề”: những người trải qua chiến tranh và ít tiếp xúc công nghệ – kỹ thuật, trong truyền thống xã hội văn hóa Nhật Bản, người phụ nữ Nhật Bản rất thương chồng, chăm sóc công việc gia đình, đề cao tính hy sinh, trải qua những biến cố thì họ trở nên lãnh đạm hơn. Bộ phim thu hút họ bởi vì tính lãng mạn, mà phim Hàn Quốc làm rất tốt trong những câu chuyện này.

Diễn ngôn tái cấu trúc mối quan hệ chính trị Hàn Quốc và Nhật Bản thông qua những khán giả nữ trung niên bởi vì họ là người phụ nữ trải qua cuộc chiến tranh căng thẳng Nhật Hàn. Ẩn đằng sau bộ phim, các đạo diễn đều gửi gắm những diễn ngôn.

Về việc thảm sát Mỹ Lai có liên quan quân đội Hàn Quốc, Hàn Quốc công khai xin lỗi, tổ chức những chương trình trao đổi văn hóa, họ thay đổi hành vi của giới trẻ là những người chưa trải qua cuộc chiến tranh và để phòng ngừa sự bài trừ sau này.

Nhân vật trong các bộ phim truyện Hàn Quốc đều gây xúc động, chết vì bệnh, tai nạn, câm điếc, không có tiếng nói, hình ảnh mang tính chất ẩn dụ đại diện cho những nhóm người thấp cổ bé họng trong xã hội.

Hình ảnh mùa đông trong poster phim “Bản tình ca mùa đông” ngoài tính chất lãng mạn thì lại rất gần gũi với văn hóa Nhật Bản, ngay cả diễn viên cũng giống người bản địa.

 

_ Diễn ngôn trong quyền lực:

  •       Tìm hiểu về mối quan hệ quyền lực giữa phương Đông và phương Tây

Nghiên cứu của Edward Said “Đông phương luận”.

Dựa trên phân tích văn học và văn bản.

Hình ảnh phương Đông theo các nhà nghiên cứu nữ tính, yếu đuối, cảm xúc. Phương Đông lại giàu tính thơ ca.

Hình ảnh phương Tây nam tính, mạnh mẽ, lý trí, kỹ càng kỹ lưỡng. Khoa học phương Tây phát triển sớm.

 

Câu hỏi: Có quá phiến diện khi nói về sự nam tính – nữ tính của phương Đông và phương Tây khi phương Đông cũng có nét nam tính (nhưng được thể hiện theo một cách khác)?

Trả lời: Said tiếp cận dựa trên khía cạnh văn học, Said cũng ngầm phê phán những tác giả chỉ tập trung vào khái niệm về sự nam tính để gắn cho sự nữ tính của phương Đông, một ví dụ điển hình là giới khoa học khi miêu tả và trứng và tinh trùng.

  •       Diễn ngôn quyền lực: Tìm hiểu về vai trò của phụ nữ Hồi Giáo, họ có cần được cứu giúp hay không.

Nghiên cứu của Lila Abu – Lughod “Phụ nữ Hồi giáo cần được cứu giúp?”

Thảo luận về quyền của người phụ nữ Hồi giáo sau sự kiện ngày 11/9. Sau sự kiện này thì Bush chồng xem Hồi giáo là một thành phần nguy hiểm và phát động tấn công, trong khi đó phu nhân tổng thống muốn cứu giúp người phụ nữ Hồi giáo, chịu nhiều định kiến, tù túng, bị xem thường trong xã hội so với xã hội phương Tây.

Lila đặt ra câu hỏi: Có hay không sự tồn tại của ý thức hệ Tây phương “sự lạm dụng” hình ảnh người phụ nữ Hồi giáo cần được cứu giúp? Thật ra đằng sau sự cứu giúp đó có gì khác?

Cần phải nhìn nhận những người phụ nữ Hồi giáo trong bối cảnh lịch sử, xã hội và ý thức hệ của họ. Không thể dùng quan điểm được xem là “cấp tiến” để đặt vào một nền xã hội với văn hóa khác biệt.

“Cứu giúp” những người phụ nữ Hồi giáo khơi dậy ý thức hệ chủng tộc xem những người Hồi giáo như là những người dã man.

Diễn ngôn như cuộc chiến của ý thức hệ, khơi dậy phân biệt chủng tộc

_ Diễn ngôn trong ý thức hệ:

  •       Jame Scott: ý thức hệ tác động đến diễn ngôn

Diễn ngôn là công cụ để phục vụ ý thức hệ

 

Anh Huy: Muốn cứu giúp ai đó thì phải hỏi ý kiến của họ chứ không được áp vào giá trị của mình cho quan điểm của họ mà mình xem như là lạc hậu.

Phản biện 1: nền văn hóa nếu như tồn tại những khiếm khuyết thì cộng đồng nhìn vào và sẽ đòi hỏi cần có sự chỉnh sửa, không nên xem bảo vệ quyền của người phụ nữ là “phương Tây” để có lí do mà bài trừ, sự tự do ở đây được xem như sự tự do phổ quát, không có việc ở nền văn hóa đó không được tôn trọng đồng nghĩa với việc cộng đồng quốc tế không thừa nhận sự tự do của con người.

Phản biện 2: ở khía cạnh phương Tây thì cảm thấy việc không lên tiếng thì xem là lạ, cần có lắng nghe để xem xét.

Phản biện 1: Giá trị phương Tây là giá trị phổ quát khi giá trị đưa ra phù hợp với xã hội con người, suy cho cùng thì anh là con người, anh có một số dự định và xã hội cần tôn trọng nó. Vấn đề ở đây là xem xét chữ cứu như thế nào, thay vì dẫn quân xâm lược đất nước để thay đổi quyền tự do của cả dân tộc.

Phản biện 3: Cách làm rất quan trọng, cần làm cho họ biết rằng mình có những quyền nào? Nếu họ không có nhu cầu thoát ra mà mình kéo ra thì đã không tôn trọng quyền tự do của họ.

Phản biện 1: Vậy thì quyền tự do có trước hay cách giúp đỡ của họ có trước?

Nghiên cứu “Diễn ngôn của thân phận và vị thế của giai cấp công nhân Việt Nam: Một phân tích giữa diễn Ngôn chính thống và nhận thức của công nhân”

Nghiên cứu của James Scott về ý thức hệ tác động đến diễn ngôn, những người trực tiếp bị ảnh hưởng bởi diễn ngôn.

Khái niệm “trên sân khấu” và “dưới hậu đài”, trong luận án “Diễn ngôn của thân phận và vị thế của giai cấp công nhân Việt Nam: Một phân tích giữa diễn Ngôn chính thống và nhận thức của công nhân” của anh Nguyễn Quang Huy thì anh cũng chỉ ra sự khác biệt trong diễn ngôn của nhà nước và với người công nhân tự nhìn nhận mình.

Nghiên cứu về các xã hội ở các nước Đông Nam Á.

Tiếng nói của những người yếu thế “Vũ khí của kẻ yếu”, “Nghệ thuật của sự phản khảng”.

  1. Hệ quả và cách giải quyết:

_ Hệ quả lớn nhất của diễn ngôn: Mặc định một chiều hướng, phục vụ cho chiều hướng đó và không chấp nhận những hướng khác.

_ Cách giải quyết: Khi trong thực tế tồn tại sự va chạm giữa những diễn ngôn khác nhau => lắng nghe và cởi mở trao đổi.

 

Nguồn tham khảo:

 

  • Claude Levi Strauss, 1958, Structural Anthropology, bản dịch của Claire Jacobson và Brooke Grundfest Schoef, 1963, New York: Doubleday Anchor Books
  • Jacques Derrida, 1966, Structure, Sign and Play in the Discourse of the Human Sciences, in Writing Difference, bản dịch của Alan Bass, 1978, Chicago: University of Chicago Press
  • Michel Foucault, 1969, The Archaeology of Knowledge, bản dịch của Sheridan Smith, London and New York, Routledge, 2002
  • Michel Foucault, 1970, The Order of Things, Pantheon
  • James Scott, 1985, Weapons of the  Weak: Everyday of Peasants Resistance, Yale University Press
  • James Scott, 1990, Domination and the Arts of Resistance, Yale University Press
  • James Paul Gee, 1999, An Introduction to Discourse Analysis Theory and Method, Third Edition, Routledge
  • Teun Van Dijk, 1985, Discourse Analysis in Mass Communication Research, Walter de Bruyter, University of Pennsylvania
  • Tuyển tập dịch nhiều tác giả, 2006, Ngôn ngữ văn hóa và xã hội – một cách tiếp cận liên ngành do Vũ Thị Thanh Hương và Hoàng Tử Quân dịch, NXB Thế giới, Hà Nội

 

 

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *