Leave a comment

Tọa Đàm “Lịch sử như cái được sử dụng – Trường hợp bản sắc dân tộc và di sản văn hóa”

Cover

Cover

Ngày: 10/02/2017

Người trình bày:          – Trần Trọng Dương (Viện Nghiên cứu Hán – Nôm)

– Trần Quang Đức (nhà nghiên cứu độc lập)

I/ BẢN SẮC VĂN HÓA

  1. Kiến trúc lịch sử – Chùa Một Cột (niên đại ít nhất 1954 hoặc cuối TK 19) -> 1 trong 3 hình ảnh phổ biến được phép in trên hoa văn ở Việt Nam

Bản sắc dân tộc: cột đá lớn được xem là linga (Trần Quốc Vượng, Trần Ngọc Thêm) -> lấy truyền thống văn hóa phương Nam -> tinh thần bài Trung Quốc)

Anh Dương có phục dựng bản vẽ Liên Hoa Đài (trải qua nhiều nghiên cứu sử liệu, khảo cổ, văn hóa) -> không dám chắc sự thật lịch sử, chỉ là tái hiện lịch sử.

Có nhiều lịch sử khác nhau, nhiều cách diễn giải khác nhau.

  1. Nhân vật lịch sử – Hùng Vương dựng nước

2.1. Chính trị:

Như được dạy Việt Nam là nước có giá trị lịch sử lâu đời, giáo dục lòng yêu nước thông qua các hình ảnh lịch sử.

Truyền thống được tạo dựng như thế nào thông qua Hùng Vương?

Câu nói khởi phát nên đầu tiên cho nhiệm vụ khoa học chính trị, viện Khoa học xã hội Việt Nam. Họp kín thì chọn ông Hùng Vương (thay cho Đinh Bộ Lĩnh) vì nó có giá trị lịch sử lâu dài hơn.

“Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước” – câu nói cho bộ đội, chiến sĩ năm 1954 tại khu di tích Đền Hùng (núi Nghĩa Lĩnh, tỉnh Phú Thọ) đã trở thành kết quả khoa học được định trước, giao nhiệm vụ cho Viện Hàn Lâm Khoa học Xã hội Việt Nam -> được giao nhiệm vụ chứng minh vua Hùng có thật, chứng minh Việt Nam cũng có chế độ công xã nguyên thủy (hợp với mô hình Marx – Lenin: lý thuyết có sẵn, tóm nguồn sử liệu để chứng minh: cách chứng minh ngược) [chỉ dụ chính trị].

Trần Huy Liệu viết năm 1956: “căm thù sâu sắc đối với những kẻ âm mưu chia cắt đất nước và một quyết tâm đấu tranh thống nhất đất nước…để kỷ niệm ngày giỗ tổ, chúng ta phải biến tình cảm thành sức mạnh. Sức mạnh ấy nhất định phải thực hiện được thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ cho cả nước” -> lời phát động cho một dự án nghiên cứu về Hùng Vương -> nay Hùng Vương đã trở thành thật – Quốc tổ, tức là 54 dân tộc ở Việt Nam đều có cùng một nguồn gốc.

2.2. Kinh doanh:

Thao tác lịch sử: Đồng hóa và tràn sang các nền văn hóa khác, bắt các nền văn hóa khác quy phục.

Tầng lớp thường dân bị thấm đẫm các tình tiết lịch sử và tin rằng những điều có thực -> họ bắt đầu sáng tác.

Làm mới biểu tượng (trong kinh doanh, thời trang, du lịch) -> phát triển các loại trang phục, trang sức cho các cuộc thi sắc đẹp (Hoa hậu, Nam vương); voucher giảm giá nhân ngày giỗ tổ; du lịch (Suối Tiên – Hùng Vương có khu thờ chứa tượng hạc của văn hóa Bắc Bộ, phướn của Phật giáo, tượng vua Hùng -> nồi lẩu thập cẩm vô nghĩa); trống đồng (dù không có chữ Hùng Vương nào được khắc trên đó) -> biểu tượng sự đoàn kết -> đưa trống đồng ra Hoàng Sa bởi một nhà sư Phật giáo.

Sân khấu hóa, chính thống hóa, nhà nước hóa lễ tổ vua Hùng (chính trị gia: chủ tịch tỉnh Phú Thọ, chủ tịch nước, báo chí, mâm nhôm đầy tiền -> hồn nhiên, không có tư vấn của các chuyên gia văn hóa, miễn là mời người chính danh trong nhà nước -> một lễ tế tầm quốc gia)

  1. Nghi lễ:

– Giết trâu bò hiến sinh -> chém trâu xong -> lấy tiền nhúng máu để lấy thiêng

– Lễ khai ấn đền Trần tế cụ Trần Hưng Đạo -> cầu “thăng quan, tiến chức” như nhiều người, nhưng gốc là “Bản chất của bốn chữ “Tích phúc vô cương” trên ấn là Nhà Trần ban cho con cháu cái phúc, dạy con cháu, bách gia trăm họ phải biết giữ gìn phẩm chất đạo đức, tích phúc thật tốt, phúc đức càng dầy thì được hưởng lộc càng bền vững. Đấy là ý nghĩa giáo dục sâu sắc nhất của việc ban ấn.”[1]

– Chùa Bái Đính (theo truyền thông là chùa lớn nhất Đông Nam Á) không có sư, lại do một công ty tư nhân sở hữu. Anh Xuân Trường (doanh nghiệp quản lí) đệ tử ruột của thủ tướng, mối quan hệ gắn kết giữa nhà nước và doanh nghiệp. Hệ thống đường do ngân sách nhà nước, tiền thu về là do doanh nghiệp. Quảng cáo: Chùa Lý, đẹp nhất, hoành tránh nhất, linh thiêng nhất. Ngôi chùa thật Bái Đính (TK18) lùi sâu trong núi. Thời sự VTV3 (chị Kiều Trinh) lại bảo chùa Bái Đính mới là có từ thời Lý.

Từ khi Bái Đính ra đời, các di tích cổ khác của Ninh Bình xuống dưới đáy, tìm kiếm những di tích cổ gần như biến mất. Người ta đến chùa với tâm thế giống với ý đồ người xây: Người ta chở nhiều bao tải tiền lễ từ khách thập phương cúng. Giắt tiền lễ lên tượng Phật.

– Hệ thống mộc bản (Vĩnh Nghiêm, Cổ Đà, Trường Lưu) TK18-19. Có 218 nhà in cổ đã từng tồn tại ở Việt Nam-> còn lại 20 tàng bản ở chùa Vĩnh Nghiêm tỉnh Bắc Giang là lớn nhất, có từ năm 1932 nhưng chưa thể được gọi là cổ vật vì chưa đủ tiêu chuẩn trên 100 năm. Sử dụng hình thức Siêu chỉnh và đánh tráo khái niệm: niên đại định bản (của năm mộc bản ra đời) với niên đại sáng tác của bài phú Trần Nhân Tông; nói rằng có 4 bản phú nôm (rất bản sắc Việt Nam) thời Trần của vua Trần Nhân Tông, phỏng vấn sư chùa thì cũng khẳng định rằng mộc bản thời Trần -> cố lách để UNESCO công nhận.

– Bia Văn Miếu ghi danh người đỗ Tiến sĩ, được xem là trường Đại học đầu tiên của Việt Nam, ghi lại truyền thống hiếu học của Việt Nam -> đánh tráo khái niệm về
“Đại học” – kéo dài lịch sử, bản sắc dân tộc (“University” có định nghĩa rất khác “A high-level educational institution in which students study for degrees and academic research is done”)[2]

– Xuất hiện các “tín ngưỡng” mới -> hướng dẫn viên du lịch nhỡ lời bảo Bill Clinton (khi đang sờ đầu rùa) rằng sờ đầu rùa sẽ may mắn -> truyền thông nghe được, lên truyền hình, tạo ra xu hướng phát triển rất thịnh từ 2005 “đỉnh cao văn hóa rải đầu rùa”.

 

  1. Cần xem xét kỹ các khái niệm

– Tính hữu dụng của lịch sử: Bản sắc dân tộc được tạo dựng nên nhằm phục vụ nhiều mục đích: kinh doanh, du lịch, làm đẹp, yêu văn hóa truyền thống, muốn bảo tồn, chính trị… Bản sắc dân tộc được tạo dựng và tung khởi trong những chu trình như vậy.

– Bản sắc dân tộc: được sinh ra giữa sự va đập văn hóa văn minh Á Đông và văn minh Phương Tây (cuối TK 19 đầu 20) để kháng cự văn hóa Trung Quốc trong cuộc chiến bài Trung -> tốt nhất là nhảy ra ngoài khái niệm này để tư duy theo khái niệm khác, đó là liên văn hóa (VD: nghiên cứu rồng Việt Nam trong mối tương quan liên văn hóa: rồng Việt Nam thời Lý, rồng Trung Quốc, Khmer, Nam Á…) không nên khăng khăng bảo rằng rồng là của Việt Nam thì chẳng ai muốn chơi chung với mình (cố gắng tìm cái riêng, không pha tạp giữa tập thể chung) -> chỉ -> lịch sử, bản sắc dân tộc quan niệm mỹ học luôn thay đổi, không nên cố định bám chấp vào bất cứ điều nào.

– Truyền thống được tạo dựng: Lịch sử sau cùng cũng không hoàn toàn tuyệt đối đúng, không nên quy định bản thân vào bất cứ một điều gì cứng nhắc. Dùng lịch sử khơi gợi lòng yêu nước (với mực đích vô ý hay cực đoan) -> Khiến cho “người dân” đã ảo tưởng về những giá trị “Gốc” đã còn mang tư tưởng dân tộc mình tuyệt vời.

 

II/ PHẦN CHIA SẺ CỦA ANH TRẦN QUANG ĐỨC

  1. Bản sắc dân tộc:

– Trước khi hỏi từ khi nào có từ bản sắc, dân tộc -> phải hiểu chưa bao giờ người Việt Nam cần tìm về bản sắc (“màu sắc gốc”) như hiện nay -> phải bóc tách ra -> có thể từng thứ có nguồn gốc ngoại lai nhưng khi kết hợp lại thành 1 bản thể thì ra cái riêng của Việt Nam. VD: chữ Hán (Nhật, Triều Tiên có), răng đen (Việt, Chăm, Thái có) -> răng đen viết chữ Hán: chỉ có thể là người Việt Nam. -> Mâu thuẫn giữa người Việt Nam muốn Âu Hóa (rất chính đáng) và mong muốn không đánh mất mình.

– Các lễ hội truyền thống ngày xưa ở miền Bắc không ồn ào nhố nhăng như bây giờ. Không nên đánh đồng rằng truyền thống hay căn tính Việt Nam có vấn đề. Phải hỏi cái gì tạo nên vấn đề đó.

– Dân tộc: khi nào “dân” và “tộc” kết hợp với nhau? Môn sử trong trường thường nói các vị vua chiến đấu để bảo vệ dân tộc, vì nhân dân. Theo sách Sử xuất bản Phương Tây và chứng minh: Thật ra ngày xưa dân chúng chỉ được xem là “con dân”, “ngu dân” chứ không phải “nhân dân” hay “công dân”. Đánh giặc là để có lợi (đất đai, của cải) cho gia tộc cầm quyền – “Ta đánh là giữ thiên hạ của thái tổ” (tổ là Lê Thái Tổ, Lê Lợi đánh giành lại từ nhà Minh, tổ của nhà vua) (Lê Thánh Tông).

Khi nào “dân tộc” xuất hiện? Nhật đã nghiên cứu từ thời Minh Trị (tư tưởng phong trào Phương Tây trào qua Phương Đông, giới tri thức Nhật Bản dịch những khái niệm, dịch “dân tộc”). Còn đến cuối TK 19 mới xuất hiện từ “dân tộc” ở Việt Nam (sách của Hoàng Cao Khải – Việt Sử Yếu), khi dịch khái niệm “chủng tộc”, người ta mới bắt đầu đặt câu hỏi người Việt Nam có nguồn gốc từ đâu. Các trí thức đời đầu cho rằng người Việt có gốc Hán -> sau 1945 Bình Nguyên Lộc bảo gốc Malay -> nay chính thống thì bảo người Kinh không có nguồn gốc thuần -> vậy tại sao lại cố kết thành 1 dân tộc chung (Kinh + các dân tộc khác)? Đó là ý chí chính trị bài Trung.

– Truyền thống được tạo dựng: có những sự khác nhau nào trong tư duy về dân tộc giữa người Việt thời Nguyễn và nay?

Thời Nguyễn Ngày nay
·        Cho là người Việt có gốc Hán (Phạm Quỳnh)

·        Viết chữ Hán

·        Đi chân đất, nhuộm răng đen

·        Phủ nhận (phản tư người Việt về nguồn gốc dân tộc)

·        Viết chữ Quốc ngữ

·        Đi giày dép, để răng trắng

 

Truyền thống, tư duy, thẩm mỹ của thời nay khác rất nhiều so với ngày xưa.

– Áo dài truyền thống theo quan niệm Nho là có thể che hết được những đường cong, không bó sát vào eo, ai cũng mặc được. Áo dài cách tân: đặt vào thời Nguyễn. Dân Tây Sơn thấy áo dài thời Nguyễn than trời, bảo “ngàn năm áo mũ thành cỏ rác”. Áo dài thời Nguyễn bị Lê chê là tân thời (tiêu cực). Đừng dùng truyền thống để cầm tù (thích áo dài thế nào thì mặc, mặc đẹp thì mặc), quy kết nhau, nâng cao quan điểm là mất nước, mất bản sắc dân tộc. Truyền thống luôn được làm mới. Phải tự do tư tưởng và sở thích. Truyền thống tạo ra mới mà chỉ đi cầm tù nhau.

– Lịch sử bị sử dụng -> lợi hay hại? Bây giờ thấy hại nhiều hơn lợi (phim lịch sử chỉ để nâng cao lòng yêu nước, lòng tự tôn dân tộc). Nhưng sau này sẽ tốt hơn, như dùng lịch sử để truyền tải tinh thần bao dung khi có sự đa dạng văn hóa trong xã hội.

  • Đời Trần, Lý: văn hóa hỗn dung tam giáo đồng nguyên (Nho, Phật, Lão), nền văn hóa hỗn dung và được tiếp nhận chưa bao giờ nhiều như thế, tinh thần bao dung với tất cả nền văn hóa. Không tẩy chay văn hóa từ Phương Bắc xuống và từ Phương Nam lên
  • Cuối Lê Trần: Nho giáo độc tôn -> bắt đầu xảy ra vấn đề

-> Tương lai cần hướng đến sự đa nguyên, bao dung tất cả nền văn hóa tốt đẹp của thế giới.

 

III/ HỎI – ĐÁP

  1. Những gì các anh lựa chọn để phân tích phản biện chỉ là những thứ nhìn thấy được (biểu tượng, nghi lễ…) chứ chưa nhắc đến tính cách dân tộc. VD người Nhật kỷ luật, siêng năng, còn Việt Nam chỉ thấy nói chung chung là cần cù, thông minh, cũng chưa chắc đúng. Tình hình nghiên cứu tính cách con người Việt Nam đang tới đâu rồi?

Anh Dương: Cụ Đào Duy Anh có đề cập rồi. Nên tham khảo sách.

Anh Đức: Trong khi phương Tây đến phương Đông vào cuối TK19, đầu 20 -> chỉ có Thái Lan và Nhật không bị đô hộ vì không chống cự, phản đối mà họ tự nhìn nhận thế mạnh yếu và cải cách, dịch sách vở, thay đổi truyền thống. Việt Nam ban đầu cũng có (Nguyễn Trường Tộ), nhưng càng về sau trí thức Việt Nam càng cô độc và thất bại.

Văn hóa Nhật Bản trước Minh Trị có lúc dân gian được cho làm theo giới quý tộc. Còn Việt Nam không được phép (quý tộc đi giày – dân thường phải đi chân đất). Trí thức Nhật viết sách, dịch sách. Trí thức Việt Nam nói ra rả nhưng chỉ với giới trí thức cho nhau, giới bình dân không biết gì. Nhật thua Thế chiến thứ II đã có sẵn một mặt bằng về dân trí -> áp dụng mô hình dân chủ phương Tây -> nhanh thành công.

Không nên lập luận vì văn hóa nông nghiệp nên Việt Nam mới thế. Nhật, Triều Tiên cũng văn minh nông nghiệp nhưng lại phát triển được. Là do yếu tố con người và thời thế.

  1. Tại sao nhà cầm quyền Nhật cho phép người dân hiểu biết, tự do và thay đổi?

Nhật: địa lý quốc đảo, từ 1.500 năm trước (khi Việt Nam còn đang bị Bắc thuộc), Nhật đã cử 1.200 tăng sĩ sang Trung Quốc thời Đường du học, ghi chép bài bản -> về xây dựng đất nước (chùa chiền, văn hóa) -> tư duy có sự mở rộng, không bảo thủ. Phương Tây vào -> có sự phản tư từ giới trí thức.

Trong khi người Hàn tranh cãi Kinh Dịch, chữ Hán, Khổng Tử, Tây Thi là người Hàn, người Việt cãi Kinh Dịch, Tây Thi là người Việt nhưng chính trị luôn bị lệ thuộc Trung Quốc, thì Nhật tiếp nhận văn hóa (không phản đối văn hóa đỉnh cao của đời Đường, nhưng chính trị thì tách bạch), như chỉ viết sách làm sao ứng dụng Kinh Dịch vào đời sống. Thể hiện sự khác biệt trong tư duy. Việt: tư duy “Nghìn năm Bắc thuộc” -> cảm xúc và phản ứng rất tiêu cực với những gì liên quan tới văn hóa Trung Quốc.

Hi vọng sau này, khi kinh tế Việt Nam lớn mạnh, có nhiều tự do hơn, người Việt qua cơn “mê sảng”, sẽ có sự thay đổi tích cực.

  1. Vị trí của người viết sử có quan trọng không?

– Sử gia có cái khó là phải viết sử theo quan điểm của ý chí chính trị, dựa trên cơ tầng tư tưởng của chế độ đó. Phải có bản lĩnh lớn mới viết khác đi.

– Ngô Sỹ Liên viết sử thuần túy Nho giáo (biên soạn theo lệnh nhà vua). Sử gia đầu thế hệ Pháp thuộc (Phan Bội Châu, Hoàng Cao Khải) dám viết về lịch sử mất nước.

  • “Việt sử kính” (Gương sử Việt) năm 1914 của Hoàng Cao Khải – Phó vương Bắc Kỳ (trong bộ máy của Pháp) lại viết về lịch sử mất nước của Việt Nam. Ông nhìn từ chiều kích khi nào Việt Nam thua, khi nào thắng, khi nào xâm lược nước khác… -> toàn diện hơn là chỉ toàn lịch sử chiến thắng vẻ vang. Ông là chính trị gia nhưng cũng là sử gia. Sách được xuất bản ngay tại Pháp, được Pháp dùng. Có sử gia nào bây giờ dám viết và đưa cho thủ tướng để tư vấn về các vấn đề của đất nước?
  • “Việt Nam vong quốc sử” (1905 – Phan Bội Châu) về lịch sử mất nước của Việt Nam -> làm phấn chấn lòng ái quốc của người Việt Nam.

– 2 nhóm sử gia: Bắc Việt, Nam Việt. Nhận thức của sử gia Sài Gòn (giữ nước – hòa bình) trong sách vở hoàn toàn bị xóa sạch mà chỉ còn của sử gia Bắc Việt (dựng nước – chiến tranh). Sử gia, ngoài hứng thú sử học của ông, phải chịu trên đe dưới búa của áp lực chính trị.

– Sử gia phải thấy được chỗ hở sống còn để nói thật những gì mình nghĩ. Thời thế, tư tưởng hiện nay cởi mở hơn nhiều so với 10 – 20 năm trước để chúng ta có thể trình bày và thảo luận. Tuy tư tưởng trong nghiên cứu khác nhau nhưng giới sử chính thống (Phan Huy Lê) vẫn trân trọng các kết quả của giới nghiên cứu độc lập.

  1. Khi đã biết những gì mình từng được dạy và tin là không đúng thì nên xử sự ra sao?

– Anh Dương: Biết sai thì bỏ. Bài nghiên cứu trước của mình bây giờ phát hiện thấy không đúng thì cứ sửa bình thường. Trách nhiệm của người trí thức: mình tự sửa hoặc để người khác sửa với sự tôn trọng, biết ơn.

Nhiều người ăn ngạch nghiên cứu viên của nhà nước nhưng không phải trí thức. Họ không có ý định đưa ý nghĩ thật của mình cho người khác biết mà chỉ lo giữ ghế, an toàn.

– Anh Đức: trí thức còn nợ người dân mảng lịch sử đời sống thay vì chỉ chăm chăm lịch sử chiến tranh, nợ các tác phẩm sử cho đại chúng đến người dân thay vì chỉ toàn ngôn ngữ khoa học cho giới trí thức đọc với nhau.

  1. “Bảo quốc túy, tuyết quốc sỉ” (Lương Văn Can) là gì?

– Bảo quốc túy: bảo vệ, gìn giữ tinh hoa của nền văn hóa (văn học chữ Hán, quốc âm, văn hóa, tư tưởng)

– Tuyết quốc sỉ: rửa sạch nỗi nhục của đất nước

Xung đột với văn hóa phương Tây (phải giữ gìn văn hóa Việt Nam), bị phương Tây coi thường (phải rửa nỗi nhục) -> ý thức chung của giới trí thức thời mất nước vào Pháp.

  1. Hiện trạng giáo dục lịch sử trong nhà trường? Có tương lai nào cho giáo dục lịch sử Việt Nam tốt hơn?

– Anh Dương: Nơi nào cũng xem giáo dục và truyền thông là để phục vụ cho chính trị, nhưng khác ở mức độ. Việt Nam chưa có tự do giáo dục, báo chí truyền thông và lập hội. Nhà nước vẫn tiếp tục kiểm soát xuyên suốt từ cấp thấp nhất đến cả Tiến sĩ có hệ thống, lớp lang bài bản. Tuy khó nhưng vẫn có thể cố gắng cải thiện:

  • Bộ môn Hán Nôm sắp bị khai tử khỏi khoa Văn ĐH Sư phạm Hà Nội, ĐH KHXH & NV Hà Nội, ĐH KHXH & NV Tp.HCM -> tôi tự viết, tự xuất bản sách, giáo trình để sinh viên, phụ huynh và mọi người được đọc.
  • Anh Nguyễn Quốc Vương thí điểm cách dạy mới trong lớp, có sự ủng hộ từ phiếu bầu của học sinh và phụ huynh.

Tự do học thuật từng bước một, từ từ sẽ thay đổi, sẽ tự do hơn cho Sử học, văn học, triết học, báo chí.

– Anh Đức: Không đồng ý “Nơi nào cũng xem giáo dục và truyền thông là để phục vụ cho chính trị, nhưng khác ở mức độ”. Học thuật phải tách ra khỏi chính trị. Nhật: giáo viên không được theo đảng phái nào, chỉ thống nhất tinh thần tự do dân chủ. Phải có quyền tự do cá nhân, lựa chọn theo ý thức hệ nào.

Càng cải cách càng lạc đường, càng lạc đường lại càng cải cách. Những người trí thức làm được gì? Tôi viết, dịch sách. Để đến một ngày nào đó có sự thay đổi thì dân cũng đã có sách rồi, đã có chút thay đổi trong nền tảng tư tưởng của người Việt rồi.

  1. Huyền thoại hóa lịch sử: tại sao Ngô Sỹ Liên đưa các vua huyền sử Trung Quốc (vua Nghiêu, Thuấn) vào sử Việt Nam?

Trộm nghĩ: may gặp buổi thịnh trị, tự thẹn không chút báo đền, nên không tự nghĩ sức học kém cỏi, lấy hai bộ sách của các bậc tiên hiền làm trước đây, sửa sang lại, thêm vào một quyển Ngoại kỷ, gồm một số quyển, gọi là Đại Việt sử ký toàn thư. Trong bộ sách này, về sự việc, có việc nào trước kia quên sót thì bổ sung vào; về thể lệ có lệ nào chưa thật đúng thì chỉnh lý lại; về văn có chỗ nào chưa ổn thì đổi thay đi; thảng hoặc có việc nào hay việc nào dở có thể làm gương khuyên răn được thì góp thêm ý kiến quê kệch ở dưới… Tuy những lời khen chê ấy chưa có thể làm công luận cho muôn đời về sau nhưng may ra cũng có thể giúp ích phần nào cho việc tra cứu tìm hiểu…”.[3]

Đặt vào phần Ngoại kỷ (phần còn những nghi ngờ) với tinh thần dĩ nghi truyền nghi của sử học, trích nguồn đàng hoàng (“Liễu Nghị”, “Đường Thư”). Đến TK 19 vua Tự Đức đọc về Kinh Dương Vương, An Dương Vương thì loại thẳng.

  1. Có bằng chứng cho lập luận “khái niệm dân tộc xuất hiện từ khi Việt Nam va chạm với văn minh phương Tây” không? “Bệnh ngoại lệ Việt Nam” – tư tưởng xưng mình là riêng biệt (so với Trung Quốc) có phải vì vị thế địa chính trị của Việt Nam làm Việt Nam lúc nào cũng phản ứng, gồng mình muốn đứng riêng, tách ra khỏi Trung Quốc (họ mạnh cả binh lực lẫn văn hóa), muốn tồn tại một văn hóa riêng từ lâu hơn rồi chứ không phải chỉ từ khi tiếp xúc với phương Tây? Vậy chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi hiện nay có phải là khó chữa hơn khi nó có gốc gác lâu dài đến thế?

Anh Đức: sách về quốc dân -> Nhật Bản ban đầu dịch là “dân tộc”, thấy không ổn -> chuyển sang “quốc dân”, bây giờ vẫn dùng.

Việt Nam đặc biệt: Trước thời Nguyễn chưa có ai nói là phải khác nhau giữa Trung Quốc và Việt Nam. Giới trí thức: toàn sử dụng chữ Hán khi viết, học hành, thi cử. Chuộng dùng như thế mới là văn minh. Giới bình dân: vẫn giữ các nét riêng của Việt (phong tục ăn trầu nhuộm răng đen).

Bản sắc như là bất biến, cái gì cũng có thể bị phản biện là phát triển. Diễn ngôn chính trị hóa do hoàn cảnh lịch sử, tin thần yêu Nhật Bản. Sách sự kiện rõ rang, không có sự kiện chỉ là diễn ngôn. Lịch sử hấp dẫn muôn ngàn dáng vẻ, muôn ngàn sắc thái, hãy tận hưởng.

Văn hóa đánh đồng văn minh: ví dụ những cái từ Trung đều xấu và đóng tư tưởng không tiếp nhận bất cứ giá trị văn hóa, kinh tế nào từ Trung.

Nhận đồng văn hóa

Việt Nam khác biệt về chính trị. Triều Tiên vua mặc áo đỏ ko mặc áo vàng, xưng vương mà không xưng đế, không bệ hạ mà điện hạ, lên ngôi phải xin Trung Quốc sắc phong.

Việt Nam khéo léo: “nội đế ngoại vương” – trong nước tự xưng là hoàng đế, mặc màu vàng, nhưng khi sang Trung Quốc thì xưng thần, còn với các vương quốc nhỏ khác (Champa) thì xưng đế để buộc triều cống thần phục.

Câu hỏi của cô Phượng: Tinh thần dân tộc cực đoan có từ khi nào? Khi Nguyễn Văn Minh – “chúng tôi những người An Nam Pháp Hóa.”

  1. Bình luận 1: Khởi đầu của hai anh đặt lại vấn đề bản sắc là gì, nó có thật không, nó có bất biến không là điều cần thiết. Nhưng tôi nghĩ lời phản biện của các anh chưa thể được khẳng định, có thể bị phản biện. Cứ như thể mọi thứ ở Việt Nam hiện giờ đều toàn tồi tệ, ta chỉ nghĩ Nhật lúc nào cũng tốt hết. Tôi sợ chúng ta bị rơi vào cái bẫy diễn ngôn. Gần đây tôi đọc một quyển sách tiếng Anh cho tôi nhiều sự kiện rõ ràng chứng minh những nhà duy tân lớn của Nhật trước thời của họ cũng rất cô đơn, bị bức hại chứ không phải họ làm được dễ mà mình không làm được.

Nguyễn Trường Tộ có nhiều bài viết chứng tỏ tầm nhìn tốt hơn Nhật, được vua Tự Đức tiếp nhận nhiều chứ không bi đát như ta nghĩ. Nhưng sau đó nó vẫn không thành công. Tôi gọi đó là “sự hội tụ của nhiều yếu tố tình thế”. Lịch sử hấp dẫn vì nó có muôn ngàn dáng vẻ lấp lánh. Mỗi người chỉ nắm được một phần của nó, còn chừa chỗ cho người khác có cách tiếp cận khác.

Phải để tinh thần hoài nghi đặt lại vấn đề cũng được nuôi dưỡng trong các bạn trẻ, kể cả khi đất nước đang có nhiều sự bi quan. Ngày nay ta đã có những bài học nhãn tiền rằng không có nơi nào có sự bình yên bất di bất dịch.

Văn minh là khi con người có truyền thống đại học tách khỏi thần quyền và chính quyền, nhưng thế giới hiện nay đang bất định. Cần có tinh thần hoài nghi khoa học nhiều hơn.

  1. Bình luận 2: Tự do không bao giờ là thứ được người ta cho. Do mình tự ý thức và giành lấy. Chúng ta tự do tới đâu là do ta quyết định, ta chịu trả giá tới đâu.

Tự do giáo dục: người ta làm nhiều hơn người ta nói (vì nói là chết liền) nên phải nhìn thấy cái người ta làm. Tự do hay không là thầy và trò quyết định, nhà báo quyết định, chứ không phải chính quyền.

  1. Nếu không có “bản sắc dân tộc”, các nhà giáo dục và giới trẻ ngày nay nên đặt cái gì là gốc để giáo dục lịch sử cho thế hệ sau?

– Anh Dương: Học sử và giải ảo các vấn đề lịch sử để làm gì? Học sử không phải để nắm bắt một sự thực nào đã từng xảy ra. Nhiều sự kiện đã xảy ra và được nhiều người dùng theo nhiều kiểu, đó là một cuộc đuổi bắt không dừng lại. Phải dạy về nhận thức lịch sử sống động chứ không phải sự kiện. Thay vì dạy “môn lịch sử” (sự kiện), hãy dạy “sử học”, là tư duy về quá khứ để có cách nhìn nhận cho cuộc sống hiện tại để hiểu và biết cách ứng xử với xã hội.

– Anh Đức: tư duy sử học là tư duy phê phán sử liệu (niên đại, tác giả, mục đích viết của tác giả) chứ không phải đánh năm nào, chết bao nhiêu người, ai chính nghĩa, ai phi nghĩa. Nếu có tư duy thì sẽ tiếp cận, lý giải các vấn đề khác không phải sử trong cuộc sống (tên họ, chữ viết, văn hóa…) chứ không phải để mắc kẹt vào quá khứ. Học sử còn để tìm thấy nội lực tinh thần của Việt Nam, nó là gì, có cái gì đáng để duy trì. Sau rốt là đạt đến tinh thần tự do, không vướng mắc vào quá khứ hay một ý thức hệ nhất định, mà chủ động tìm đến các cách khác.

[1] Tư liệu: http://www.baomoi.com/nguon-goc-va-y-nghia-cua-le-khai-an-den-tran/c/21483365.epi

[2] Tham Khảo: https://en.oxforddictionaries.com/definition/university

[3] https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C3%B4_S%C4%A9_Li%C3%AAn

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *