Leave a comment

Hồn Việt Trong Thư Pháp (26/10/2014)

TÓM TẮT TỌA ĐÀM

HỒN VIỆT TRONG THƯ PHÁP

Thời gian: 08:30 – 11:30, 26/10/2014

Địa điểm: Trà quán Ông Đồ, 115 D5, Quận Bình Thạnh, Tp.HCM

Người trình bày: Mai Thị Thái Hợp

Người hướng dẫn: Thạc sĩ văn hóa Nguyễn Hiếu Tín

 ThuPhapBanner

I.  Các nét chính trong phần trình bày:

1.  Thư pháp là gì?

Cách hiểu thứ nhất:

–  Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam[1] , thư pháp là phép viết chữ của người Trung Hoangười Ả Rập được nâng lên thành một nghệ thuật.

Cách hiểu thứ hai:

Theo nhà nghiên cứu Đặng Đức Siêu, thư pháp có  thể hiểu theo 3 nội dung sau:

–  Bút pháp chép sử của các sử gia cổ đại

–  Cách viết chữ Hán

–  Bộ môn nghệ thuật lấy chữ Hán làm biểu tượng.

Cách hiểu thứ ba:

Từ hán việt:

  • Thư: chữ
  • Pháp: phép

->  Phương pháp viết chữ hay phép viết chữ.

-> Thư pháp là nghệ thuật viết chữ mà thông qua đó người ta biểu lộ tình cảm tâm thức bao gồm tâm, ý, khí, lực của người dụng bút.

Trong thư pháp có 2 từ dễ lẫn lộn là “thư họa” và “họa tự”

Thư pháp Thư họa
Họa tự
Cần có cảm hứng sáng tạo vì chữ viết phụ thuộc vào tình cảm người viết.Không được đồ chữ chữ vì khi đã bị đồ không thể hiện cái thần của người viết Là sự kết hợp giữa thư với
họa, họa là vẽ còn thư là chữ.Nó thường xuất hiện trong
tranh thủy mặc.
Dùng ký tự của chữ để tạo ra hình. Phải có ý tưởng. viết trong khoảng thời gian dài cũng được. Khi ra được hình chúng ta được phép đồ tới đồ lui vì nó quan trọng hình ảnh hơn.

IMG_2286

2.  Đặc điểm thư pháp ở các quốc gia có nền thư pháp tiêu biểu:

a)  Trung Hoa:

Thư pháp là linh hồn của nghệ thuật. 

  • Là cơ bản cho tất cả các loại hình nghệ thuật từ âm nhạc, kiến trúc và đặc biệt võ thuật, thư pháp và võ thuật có mối quan hệ mật thiết, chẳng hạn một số thuật ngữ như “thế” và “lực”… lấy từ thuật ngữ trong thư pháp. 
  • Trong nghiên cứu khoa học đề tài “thẫm mỹ học về võ thuật và thư pháp”, họ cho biết trong môn võ có thế cương, thế nhu thì thư pháp có nét đậm, nét nhạt… phải có sự tương phản mới có thư pháp, càng tìm hiểu sâu càng nhận ra sự tương đồng của thư pháp và võ thuật. 

Chữ tượng hình:

  • Chữ Trung Hoa là chữ tượng hình nên thể hiện thư pháp luôn theo nhịp điệu của thế giới tự nhiên. Mỗi nét trong thư pháp ứng với một hình ảnh trong tự nhiên. 
  • Ví dụ: nhà thư pháp Vương Hy Chi – ông tổ thư pháp định nghĩa thư pháp như sau: “mỗi nét ngang như mây bay như bày trận, mỗi nét móc như một cây cung dương lên, mỗi nét chẫm như một tảng đá rơi xuống”. 

Tính nguyên tắc: 

  • Thư pháp Trung Hoa có 6 thể thư nhưng thể nào cũng viết trong ô vuông, ngay cả chữ “thảo” – chữ viết phóng thoáng nhất cũng vậy.
  • Thư pháp Trung Hoa có một giáo trình chính được truyền từ nhiều đời và quyển này là chuẩn mực của thư pháp Trung Hoa.
  • Thư pháp Trung Hoa có hệ thống lý luận, tạo điều kiện phát triển chuyên môn cho người viết thư pháp cũng như giới phê bình thư pháp.

-> Thư pháp Trung Hoa được công nhận là thư pháp phi vật thể. 

Có 2 lý do khiến thư pháp Trung Hoa phát triển:

  • Bản thân chữ tượng hình mang vẻ đẹp thu hút người khác nên kết hợp nghệ thuật viết chữ đẹp trên nền chữ tượng hình hẳn nhiên tạo được ấn tượng thu hút đông đảo người quan tâm.
  • “Xa đồng quỹ, thư đồng văn”  bánh xe cùng một trục và chữ viết phải cùng một loại văn tự thì mới phát triển được), câu nói Tần Thủy Hoàng tuyên bố khi thống nhất đất nước. Ngay từ buổi đầu dựng nước, con người đã quý trọng chữ viết nên nghệ thuật viết chữ tất yếu phải phát triển.
  • Thư pháp Trung Hoa rơi vào giới bác học: đa số những người viết thư pháp nổi tiếng đều là những người làm quan, đây là nền tảng giúp thư pháp Trung Hoa phát triển bền vững (ở Trung Hoa không có hiện tượng tặng chữ như ở Việt Nam, họ chỉ viết để biểu diễn tài năng của mình).

b)  Nhật Bản

  • Gọi là thư đạo, vượt ra khỏi chức năng thông tri -> thư pháp chức năng thông tri ban đầu vươn đến tâm pháp gần như là tâm linh gọi là pháp môn trong thiền định. 
  • Người ta viết thư pháp để định tâm chứ không phải để biểu diễn nữa. 
  • Người Nhật hay viết vòng tròn enso. Khi người Nhật xem thư pháp là pháp môn, họ không cần vẻ đẹp bề ngoài của chữ, họ viết theo tâm trạng và theo tinh thần nên đối với thư pháp Nhật, họ chơi mặc (mực) tích (dấu).
  • Dấu ấn cá nhân dựa trên nét chứ không phải hình thức ->  nét thể hiện tâm trạng người viết, chữ ít mà nét thì rất mạnh, có những họa thư viết đến mức “tâm bút hợp nhất”   lấy bút viết vào tác phẩm văng tóe mực đạt đến trạng thái tinh thần cao nhất),  thường thì người viết không bao giờ lặp lại chữ đó lần thứ 2 được nên giải thích vì sao thư pháp dùng để luyện tâm.

c)  Thư pháp Ả Rập:

  • nghệ thuật thị giác hàng đầu. Không biết chữ ả rập nhưng khi nhìn vào Thư pháp Ả Rập chúng ta vẫn nhận ra đó là nghệ thuật thư pháp đỉnh cao (họ vẽ rất công phu). 
  • Người Ả Rập vẽ bằng cây bút sậy (giống cây mía lát theo chiều xéo nên bề mặt rất to), bản thân Ả Rập là nước Hồi giáo  không được vẽ người và động vật) nên thư pháp Ả Rập mang những đặc điểm rất riêng, đưa thư pháp lên nghệ thuật thị giác hàng đầu. Những nơi trang trọng họ thường gọi là kinh pháp (họ thường viết kinh Koran). 
  • Hai chủ thể người và động vật không được vẽ người ta chỉ có thể vẽ cỏ cây hoa lá cộng với chữ của họ tạo nên nghệ thuật bậc cao -> chữ Ả Rập thành nghệ thuật trang trí cao cấp.
IMG_2278 IMG_2303

3.  Thư pháp Việt

a)  Ý kiến trái chiều về sự tồn tại của thư pháp Việt: 

Dựa trên định nghĩa thư pháp

“Thư pháp là phép viết chữ của người Trung Hoangười Ả Rập được nâng lên thành một nghệ thuật”. Trong nghệ thuật viết chữ đẹp, xét về phương diện hình họa, chữ Hán khơi nguồn tượng hình vô cùng đa dạng, kì thú viết mà như họa, họa cũng như viết nên mới có nghệ thuật thư pháp, thư họa. Còn chữ Việt ta có nguồn gốc là chữ Latin, ký tự âm thanh nên không có khả năng biểu thị như vậy.

Phản biện:

– Từ Trung Quốc, thư pháp truyền qua các dân tộc như Nhật bản, Triều Tiên, Việt Nam… Dù bắt nguồn từ đâu thì khi du nhập vào bất cứ quốc gia nào, thư pháp nguồn cội không còn là nó mà trở thành thư pháp của quốc gia nơi nó đến và Việt Nam cũng không ngoại lệ. 

– Bất cứ quốc gia nào có văn tự đều có thư pháp chứ không chỉ dành riêng cho chữ Hán.

– Nếu coi thư pháp là nghệ thuật biểu hiện cái đẹp thì mỗi vùng văn hóa có cái cảm về đẹp hết sức khác nhau.

Bảng so sánh về nghệ thuật thư pháp Phương Đông và Phương Tây:

Tiêu chí NGHỆ THUẬT THƢ PHÁP
PHƢƠNG ĐÔNG

NGHỆ THUẬT VIẾT CHỮ

PHƢƠNG TÂY
Phương tiện viết Bút lông, mực tàu, giấy thấm nước. Bút sắt, bút nhọn, eke, thước, giấy mỹ thuật.
Hình thức chữ viết Linh hoạt, bay bướm, ít màu
sắc, màu trầm lắng
Nắn nót, nguyên tắc, tỷ lệ,
nhiều màu sắc, sặc sỡ
Mục đích Thư giãn, thú tiêu khiển, giáo
dục, pháp môn
Ứng dụng thực tế, minh họa, nhiều màu sắc, trang thí đồ họa.
Bản chất Thiên về tinh thần (chú trọng
nội dung, “hồn” của chữ) –
Mang tính ước lệ, trừu tượng
-> Tâm linh
Thiên về vật chất chú trọng
hình thức chữ viết) – mang
tính rõ ràng, chính xác
-> Khoa học

 

Phương Đông 

  • Cái nôi nền văn hóa nông nghiệp trọng tĩnh, chú tâm đến thần sắc hơn là hình tướng
  • Vẻ đẹp chữ viết phải lột tả được nét sâu đậm của chữ viết
  • Thường gắn với thiền đạo, với vẻ đẹp ẩn ý, cao siêu của thế giới tâm linh.

Phương Tây 

  • Mang đặc trưng của văn hóa du mục gắn với tư duy và cách nhận thức theo lối khoa học.
  • Nghệ thuật viết chữ có sự nghiên cứu tỉ mỉ về các góc độ hình học, tỉ lệ giữa các nét chữ, cấu trúc chữ, sự cân xứng giữa các con chữ theo quy chuẩn tỷ lệ “vàng”. 
  • Vẻ đẹp của thư pháp phương Tây đề cao thị giác thẩm mỹ, khoa học.

-> Mỗi nền văn hóa khác nhau, mỗi dân tộc khác nhau sẽ có thẩm mỹ nhìn nhận và đánh giá cái đẹp khác nhau thì Việt Nam- một quốc gia độc lập cũng có thư pháp. Thư pháp Việt là sự kết hợp độc đáo, “phần hồn” của Phương Đông vào mẫu tự Latin của Phương Tây.

Dựa vào tuổi đời của thư pháp Việt

Chữ Latin xuất hiện vào TK XVI và thư pháp Việt chỉ mới xuất hiện trong vòng chục năm trở lại đây nên thư pháp Việt thực chất chỉ là sự lầm tưởng vì khi được gọi là tinh hoa văn hóa cần phải có thời gian tích lũy lâu dài, ví như thư pháp Trung Quốc đã có lịch sử hơn hai ngàn năm và như thư pháp Nhật Bản cũng có lịch sử hơn một ngàn năm …

Phản biện:

  • Thư pháp Việt còn non trẻ nhưng vẫn mang âm hưởng nguồn cội và truyền tải được những giá trị văn hóa truyền thống. 
  • Người Việt đã sớm biết “cách tân” thư pháp chữ Hán thành thư pháp chữ Việt. 
  • Bản chất nó là sự nối tiếp, kế thừa của thư pháp truyền thống. 

Sự kế thừa này nằm ở chỗ:

PHương tiện thể hiện
Hình thức
Nội dung
Vẫn sử dụng những dụng cụ của thư pháp là văn
phòng tứ bảo: giấy,
nghiên, bút lông và mực
xạ.
Cách trình bày, bố cục có những nét tương đồng với thư pháp chữ Hán.  Đa phần xoay quanh tư tưởng đạo đức, nhân văn từ những câu đối, những lời hay, ý đẹp của câu chữ Hán, chữ Phúc, chữ Tâm… 

 

IMG_2226 IMG_2236

 

b)  Đặc điểm thư pháp Việt:

Lịch sử chữ viết: 

Chúng ta có 3 lớp văn hóa: 

  • Bản địa: chữ khoa đẩu (chữ Việt cổ – có trước khi chúng ta giao lưu với chữ Hán) hiện còn trên các đá Sapa, Đông Sơn… do chúng ta chưa giải mã được nên vẫn còn bỏ ngõ.
  • Giao lưu với Trung Hoa (ngàn năm Bắc thuộc và văn hóa Đại Việt): người Việt tiếp nhận chữ Hán sau đó xuất hiện chữ Nôm (khẳng định chủ quyền) nhưng sở dĩ chữ Nôm không tồn tại lâu vì nó tổng hợp nhiều chữ, bản thân chữ Hán đã khó chúng ta lại kết hợp lại để cho ra một chữ mới nên người dân bình thường khó hiểu, khó nhớ vì vậy, khi chữ Latin có mặt ở Việt Nam, chúng ta nhanh chóng biến nó thành chữ quốc ngữ và từ bỏ chữ Nôm, đây là thời điểm này xuất hiện những nhà tao nhân mặc khách kính chữ và trọng chữ. Người Việt rất đề cao chữ nghĩa, chữ là tiêu chuẩn đánh giá con người (“văn hay chữ tốt”) và ai viết chữ đẹp sẽ được nhiều người mến mộ, và từ đây đã dẫn đến hiện tượng tặng chữ vào ngày tết.
  • Hiện tượng ông đồ xuống phố thể hiện tính bình dân, tính tài tử (tự phát, nghiệp dư) của người Việt khá mạnh, đa số những người ôm mộng công danh nhưng kết quả không như mong muốn, họ thường tặng chữ cho những người quý chữ vào ngày tết. Tặng chữ thể hiện tinh thần giao lưu về tình cảm chứ không phải viết để biểu diễn mình viết giỏi hay dở, đây là điểm khác so với Trung Hoa, đây là nét đẹp độc đáo, bình dị hơn giữa người tặng chữ và người cho chữ trong văn hóa xin – cho -> Thư pháp Việt mang tính tài tử nhiều hơn tính chuyên nghiệp nên nó khó gắn với hệ thống lý luận phát triển chuyên nghiệp.

 

Ảnh hưởng của chữ Hán

Bố cục:  

Sắc phong của triều Nguyễn, đóng ấn của triều Nguyễn rồi ký tên đè lên ấn, một số nhà thư pháp Việt cũng viết theo chiều dọc như hình ấn ở triều Nguyễn.

Nội dung chữ Hán: 

  • Chữ Việt có tới 60% từ Hán Việt nên ngữ nghĩa sử dụng trong thư pháp mang mùi vị chữ Hán. Chúng ta khó có thể sử dụng từ thuần Việt vì chữ quốc ngữ còn nghèo nàn nên hiếm khi sử dụng trong thư pháp. 

-> Lịch sử thư pháp Việt phát triển đều đặn và không bị gián đoạn, dù xuất hiện gần đây nhưng trước đó chúng ta đã có lối viết “sự hoài niệm về chữ Hán – Nôm” là sự nhung nhớ chữ Hán – Nôm khi thoát thai ra chữ Hán. Lối viết này sử dụng nghệ thuật viết chữ Latin như thế nào cho giống chữ Hán (mới nhìn qua như chữ Hán nhưng thật ra là chữ Việt). Trong nghệ thuật này còn có lối viết chữ ngược. Giai đoạn này kéo dài từ thập niên 30 cho đến nay. Nhà thơ Nguyễn Bính là một trong những người viết chữ ngược rất đẹp. 

  • Giao lưu với Phương Tây: đến TK XVI xuất hiện chữ Latin, mãi đến TK XIX chúng ta mới xuất hiện bộ môn thư pháp.  

-> Việt nam là nước đầu tiên trên thế giới dùng bút lông viết chữ Latin. Điều này bắt nguồn từ lịch sử văn hóa Việt Nam. Theo nhiều sử sách ghi lại, người đầu tiên dùng bút lông viết chữ Latin là nhà thơ Đông Hồ (Lâm Tấn Phát), sở dĩ ông dùng bút lông viết chữ Latin vì ông sống trong giai đoạn giao thời giữa Tây và Hán nên ông vẫn mặc áo dài, khăn đóng, dùng bút lông thường xuyên để viết chữ Hán, nhưng khi Tây qua thì ông cổ vũ cho chữ quốc ngữ nên trong một lần làm thơ, ông lấy bút lông thử viết chữ quốc ngữ và vô tình nhiều người ưa thích nên ông được xem là ông tổ thư pháp. Sau Đông Hồ xuất hiện hàng trăm nhà thư pháp: Trụ Vũ, cố họa sĩ Chính Văn, nhà thơ Song Nguyên… Bùi Hiến, kiến trúc sư Nguyễn Thanh Sơn.

Đặc điểm riêng

– Tính biểu cảm:

Xuất phát từ tâm lý dân tộc, người Việt có tính trọng tình rất cao nên tính biểu cảm trong thư pháp mạnh hơn so với thư pháp của nhiều quốc gia khác.

  • Hình thức: 

Phá vỡ truyền thống của thư pháp Trung Hoa sử dụng những màu tương phản gây cảm xúc mạnh như giấy trắng, mực đen, dấu đỏ. Người Việt tránh viết mực đen, giấy trắng vì quan niệm người Việt màu này gợi cảm giác tang tóc nên họ hay vẽ hình mờ mờ trước mới viết chữ. Điều này giúp bức thư pháp dịu lại, mang tính trữ tình hơn.

  • Nội dung:

Không như nhiều quốc gia khác thường viết về những triết lý, tư tưởng trong sách vở… Việt Nam viết thư pháp thường có thơ vì văn hóa Việt về mặt ngôn từ thơ chiếm đến 70%. Bản thân thơ mang tính trữ tình nên thư pháp Việt chứa nhiều xúc cảm. 

– Tính linh hoạt:

  • Không có chuẩn mực, quy tắc nào cho thư Pháp Việt. Mỗi người có 1 cách viết khác nhau, thậm chí chính họ cũng có nhiều cách viết song song.
  • Nhờ tính linh hoạt đã tạo ra trường phái họa tự, nghĩa là nếu chúng ta viết chữ theo ô vuông  như chữ tượng hình của Trung Hoa) thì không thể nào ra hinh được vì chữ Việt không phải chữ tượng hình. 
  • Một hạn chế của tính linh hoạt đó là tính tùy tiện: nhiều chữ viết quá rối rắm, khó quan sát, khó cảm nhận. 

– Tính tích hợp:

  • Dùng bút lông viết chữ Latin
  • Vừa viết chữ Việt giả chữ hán, viết chữ ngược giả chữ Hán…

IMG_2229

Tài liệu tham khảo:  
1. Thư Pháp là gì? Tác giả Nguyễn Hiếu Tín năm 2007

2. Thư Pháp Trung Quốc tác giả Trần Đình Hữu năm 2013

3. Hồn chữ Việt qua thư pháp của Thư Quán Cảo Thơm năm 2003

4. Các bài viết trên trang Chuyên san bàn tròn thư họa 

 

IMG_2318

 

 

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *