Leave a comment

Giáo dục Tự nhiên trong tác phẩm “Emile hay là về giáo dục” (1762) của Rousseau (16/11/2014)

TÓM TẮT
HỘI THẢO “GIÁO DỤC TỰ NHIÊN TRONG TÁC PHẨM
ÉMILE HAY LÀ VỀ GIÁO DỤC (1762) CỦA J.J.ROUSSEAU”

 

Thời gian: 8h30 – 11h00, 16/11/2014

Địa điểm: Equest 135A Trần Quang Khải, Q1, TP. Hồ Chí Minh

Người trình bày: Nguyễn Thị Vi Yên
– Sinh viên ĐH Ngoại thương, thành viên CLB Lan Tỏa

Khách mời: TS. Nguyễn Khánh Trung
– Nghiên cứu viên, Viện Nghiên cứu Phát triển Giáo dục (IRED)

A/ Trình bày của Vi Yên

I. Tổng quan

– Jean-Jaques Rousseau có tuổi thơ bất hạnh, mẹ mất sau khi sinh ra ông; ông ở cùng cha, tuy không được đi học nhưng cùng cha mình đọc rất nhiều sách. Năm mười tuổi thì cha bỏ đi, Rousseau ở với cậu, rồi làm nghề thợ khắc chữ

– Đến năm 16 tuổi, ông bỏ nhà đi và bắt đầu cuộc đời lưu lạc, kiếm sống chủ yếu bằng nghề chép nhạc, và nhiều nghề khác như thư ký, gia sư, làm việc trong ngoại giao đoàn…

– Các tác phẩm chính: Luận văn thứ nhất (“Phải chăng sự tiến bộ của các ngành khoa học và nghệ thuật đã góp phần làm lành mạnh hóa phong tục?”), Luận văn thứ hai (“Đâu là nguồn gốc của sự bất bình đẳng giữa con người và phải chăng nó được biện minh bằng pháp quyền tự nhiên?”). Đây là hai tác phẩm quan trọng, là cơ sở tư tưởng nền tảng cho hai tác phẩm chính của Rousseau: Khế ước xã hội, Émile hay là về giáo dục. Và nhiều tác phẩm nổi tiếng khác (Những lời bộc bạch, Julie hay nàng Heloise mới, dự thảo hiến pháp Corsica, Ký âm trong âm nhạc,…)

– Rousseau còn có nhiều đóng góp trong âm nhạc, văn học, triết học chính trị và giáo dục, là người tiên phong trong nhiều lĩnh vực. Ông có ảnh hưởng lớn đến cuộc Cách mạng Pháp năm 1789.

II. Cơ sở ý tưởng

1, Tự nhiên

Đây là tư tưởng của Rousseau được viết trong luận văn thứ hai, trả lời cho câu hỏi: “Đâu là nguồn gốc của sự bất bình đẳng giữa con người và phải chăng nó được biện minh bằng pháp quyền tự nhiên?”

Tự nhiên (Nature) Xã hội công dân (Civil society)
Trạng thái Tiền chính trị, tiền xã hội (pre-political, pre-social) Trải qua lịch sử văn minh (by history that made man civilized)
Con người Con người tự nhiên (Natural man)
– Hoang dã – cao quý (noble savage)- Hạnh phúc, tốt (happy, good)
Công dân (Citizen)- Đau khổ, suy đồi (Misery, corruption)

– Bất hạnh, xấu (unhappy, immoral)

Trạng thái con người – Tự do, bình đẳng, độc lập (free, equal, self-sufficient) – Bị xiềng xích, bất bình đẳng (in chain, inequal)
Giá trị con người – Giá trị nằm ở bản thân- Đi theo thiên hướng (inclination) – Giá trị nằm ở cách đánh giá của xã hội- Đi theo bổn phận (duty)

“Mọi thứ từ bàn tay tạo hóa mà ra đều tốt: mọi thứ đều suy đồi biến chất trong bàn tay con người” (tr. 31). Và “Con người dân sự ra đời, sống và chết đi trong sự nô lệ.” (tr. 39) <Emile>

  • Con người trong xã hội luôn do dự giữa Thiên hướng và Bổn phận
  • Cần có một sự giáo dục cân bằng để đưa con người trở về với chính anh ta.

2. Giáo dục

Quan điểm John Locke (1632 – 1704) Quan điểm Jean-Jacques Rousseau (1712 – 1778)
Trẻ em – Bản chất là hư hỏng-> Cần uốn nắn trẻ theo lẽ phải – Bản năng và nhu cầu của trẻ là tốt tự nhiên-> Cần để chúng tự do
Nguyên tắc giáo dục – Trẻ phải phục tùng ý chí người lớn- Huấn luyện trẻ tuân theo kỷ luật- Chống lại các ham muốn bản năng của trẻ – Trẻ tự học tốt hơn là bị ép buộc- Trẻ tự sử dụng trí não tốt hơn là được huấn luyện- Để trẻ thỏa mãn các ham muốn bản năng
Chương trình giáo dục – Dạy dỗ phẩm hạnh, tri thức, chân lý- Dạy bằng lý lẽ, lập luận – Không cần dạy phẩm hạnh và chân lý, chỉ cần bảo vệ trẻ tránh khỏi cái xấu, cái sai
Mục đích giáo dục – Đào tạo con người gia giáo, có tư cách, học thức- Dựa theo Plato: Con người phải tuân phục quyền năng,đào tạo để phục vụ xã hội – Bảo tồn tính tự do, tính tốt của con người tự nhiên- Giáo dục hướng vào bên trong, giáo dục con người cho chính bản thân họ- Giáo dục để “làm người”
  • Phân biệt giáo dục và đào tạo
  • Đi vào xã hội dân sự, họ đánh mất sự tự do cá nhân; bị lệ thuộc vào xã hội
  • Giáo dục phải bảo tồn sự tự do và tính tốt tự nhiên, phát huy khả năng của con người
  • Đề xuất phương pháp Giáo dục Tự nhiên
  • Con người tự nhiên là tốt, là tự do

III. Giáo dục tự nhiên

1. Sơ lược về tác phẩm Emile

– Tác phẩm Emile được viết ở vùng Montmorency, là nơi có thiên nhiên tươi đẹp, nơi mà Rousseau lưu lại lâu, viết nhiều tác phẩm nổi tiếng.

– Tác phẩm là một Triết thuyết về giáo dục: Emile là một cậu bé giả tưởng, học với người thầy chỉ đạo là Rousseau.

– Bố cục gồm 5 quyển chia thành 5 giai đoạn phát triển (ở 4 quyển đầu), và quyển 5 dành cho việc giáo dục nữ giới

– Đề ra nhiệm vụ của giáo dục

  • Lấy người học làm trung tâm
  • Đảm bảo sự tự do và cái tốt tự nhiên
  • Để con người đi theo thiên hướng

– Sứ mệnh của giáo dục

  • Phát huy tối đa năng lực của người học
  • Giáo dục con người cho chính anh ta
  • Tạo nên một con người độc lập, tự do, tự khởi

– Chia ra thành các giai đoạn của trẻ theo tâm lý học sinh trưởng, mỗi giai đoạn là độc lập, ở đó con người có tâm lý riêng, nhu cầu riêng nên phải có phương pháp riêng -> hướng đến tự do và đảm bảo hạnh phúc.

  • Trẻ em 0 – 12 tuổi (Quyển 1, 2): Rèn luyện thể chất, thể trạng, nhận thức. Giáo dục hướng vào bên trong.
  • Trẻ em 12 – 15 tuổi (Quyển 3): Tuổi của lý trí phát triển. Giáo dục khoa học thực hành, tương tác với môi trường.
  • Tuổi trưởng thành từ 15 – 20 tuổi (Quyển 4): Tuổi của đam mê, tình yêu. Trau dồi kinh nghiệm, kiến thức; tạo dựng các mối quan hệ xã hội.

2. Giai đoạn 0 – 12 tuổi (quyển 1 & 2) – Giáo dục phòng vệ

– Trẻ em chưa nhận thức rõ về chính mình, thể trạng yếu, chưa hình thành lý trí nhưng lại có khả năng học tập. Đây là giai đoạn trẻ dễ bị lầm lạc khi hình thành nhận thức.

– Phương pháp của Rousseau

  • Tôn trọng sự tự do của trẻ
  • Phản đối trường học
  • Cân bằng giữa năng lực và mong muốn của trẻ
  • Bảo vệ trẻ tránh khỏi ảnh hưởng từ bên ngoài
  • Rèn luyện phát triển các giác quan và thể trạng

– Phải tôn trọng sự tự do của trẻ, Rousseau phản đối việc:

  • Người lớn bó buộc trẻ ngay từ nhỏ (sử dụng tã nịt, bắt nằm cố định), không được tự do hoạt động để phát triển cơ thể
  • Giúp đỡ trẻ làm những việc mà chúng có thể tự làm được, khiến cho trẻ lệ thuộc vào người khác, trở nên yếu đuối

– Rousseau phản đối trường học, coi đó như nhà tù:

  • Do người lớn lo xa, bắt nó hy sinh hiện tại cho tương lai vô định, đánh mất hạnh phúc của trẻ.
  • Trẻ chưa có lý trí, dễ tiếp thu kiến thức một cách sai lầm
  • Sự áp đặt từ người lớn khiến trẻ trở nên đố kỵ, ganh đua; từ đó không có cảm nhận tốt về bản thân
  • Đánh mất tính cá nhân của trẻ: Giáo dục chuyên môn hóa quá sớm, rèn luyện theo khuôn mẫu

– Cần cân bằng giữa Năng lực và Mong muốn

  • Con người chỉ hạnh phúc khi năng lực và ước muốn cân bằng nhau
  • Con người tự nhiên chỉ muốn những gì anh ta thực sự cần
  • Sự ảnh hưởng từ môi trường bên ngoài khiến người ta có những nhu cầu vượt quá khả năng, không thụ hưởng được, gây nên sự bất hạnh
  • Cần tránh xa khỏi ảnh hưởng từ môi trường bên ngoài

– Bảo vệ trẻ tránh khỏi ảnh hưởng từ bên ngoài:

  • Chân lý: Không dạy trẻ chân lý, chỉ cần tránh nó khỏi phạm cái sai
  • Phẩm hạnh: Không dạy trẻ đạo đức, chỉ cần tránh nó khỏi phạm cái xấu
  • Tránh xa sự đánh giá từ xã hội
  • Để trẻ có những cảm nhận đúng đắn về bản thân mình, tự tìm hiểu và học hỏi

-> Giáo dục phòng vệ

– Rèn luyện phát triển các giác quan và thể trạng:

  • Phát triển giác quan giúp trẻ nhận thức tốt về thế giới tự nhiên và môi trường bên ngoài
  • Phát triển thể chất cho cơ thể khỏe mạnh, rèn luyện con người

3. Giai đoạn 12 -15 tuổi (quyển 3)

– Trẻ bắt đầu có nhận thức sâu sắc về chính mình, có thể trạng mạnh khỏe và lý trí phát triển -> tính tò mò là động lực học tập.

– Quan điểm và phương pháp của Rousseau:

  • Phê phán các môn học lý thuyết thuần túy
  • Phản đối sách vở
  • Học tập và tìm hiểu dựa trên nhu cầu cá nhân
  • Giáo dục thực hành – cung cấp niềm hứng thú và phương pháp học tập

– Phê phán các môn học lý thuyết thuần túy:

  • Các giác quan luôn hướng dẫn trí tuệ tìm hiểu thế giới bên ngoài và các sự kiện
  • Đừng chỉ cho trẻ cái gì mà nó không nhìn thấy hoặc cảm nhận thấy
  • Để những ý niệm rõ ràng, đúng đắn đi vào trí não trẻ bằng chính sự hiểu biết của chúng

– Phản đối sách vở

  • Chỉ biết mà không hiểu
  • Trở thành nô lệ của tri thức
  • Mất đi khả năng tự suy nghĩ, tự học

– Học tập và tìm hiểu dựa trên nhu cầu cá nhân:

  • Trẻ chỉ tò mò những gì liên quan đến nhu cầu của chúng
  • Giáo dục cung cấp phương pháp giúp trẻ thỏa mãn sự tò mò
  • Trẻ em hiểu biết dựa trên chính sự tự suy nghĩ của chúng

– Giáo dục thực hành

  • Dạy về môi trường xung quanh (địa lý, thiên văn,…)
  • Phát triển tư duy thông qua các giác quan (vật lý, hình học,…)
  • Phát triển kỹ năng và thể trạng (nông nghiệp, nghề thủ công, thợ mộc,…)

4. Giai đoạn 15 – 20 tuổi (quyển 4)

– Giai đoạn của tình yêu và đam mê, được chuẩn bị tốt từ các giai đoạn trước. Khi con người bước ra đời sống xã hội, cần được giáo dục trong mối quan hệ với môi trường xã hội

– Quan điểm và phương pháp của Rousseau:

  • Ngăn ngừa những đam mê xấu
  • Trau dồi tình cảm và tính nhân văn thông qua trải nghiệm
  • Giáo dục tri thức, thiên về các môn xã hội
  • Về giáo dục đức tin tôn giáo
  • Con người với những nhiệm vụ xã hội

 

IV. Tầm quan trọng và ảnh hưởng

– Tầm quan trọng của tác phẩm trong các lĩnh vực:

  • Giáo dục lấy con người làm trung tâm (chủ thể), hướng vào bên trong
  • Tâm lý học sinh trưởng: chia thành các giai đoạn phát triển để có các phương pháp giáo dục phù hợp
  • Tâm lý học giáo dục: Nhìn nhận người học dưới góc độ phân tích tâm lý, nhận thức, lý trí trước khi đề xuất phương pháp giáo dục
  • Xã hội học giáo dục: Tìm kiếm môi trường giáo dục phù hợp

– Sức ảnh hưởng đối với các nhà giáo dục tiêu biểu:

  • John Dewey
  • Maria Montessori
  • Jean Piaget

– Sức ảnh hưởng trên thực tế:

  • Hệ thống giáo dục Phần Lan
  • Hệ thống giáo dục Mỹ
  • Các mô hình khác về giáo dục trẻ em

– Là tác phẩm tự biện, có nhiều mâu thuẫn giữa các ý tưởng. Có nhiều tranh luận xoay quanh tác phẩm này.

B/ Bổ sung của TS Nguyễn Khánh Trung

– Ngoài Giáo dục tự nhiên, Rousseau còn có đột phá là Giáo dục tự lập, Rousseau có sự khắt khe kỉ luật với Emile, cậu phải trải qua nhiều khó khăn thử thách

– Mục tiêu: giáo dục một con người trưởng thành, tự tin về bản thân, khỏe mạnh về thể trạng và trí óc, hạnh phúc và tự do hết mức tự nhiên cho phép, không phá rối sự yên tịnh của người khác.

– Con người tự chủ: không bị lùa vào cái khung do người lớn dựng sẵn, có khả năng phê bình, chắt lọc, độc lập phát triển.

1. Giáo dục ở Phần Lan – “học trò giỏi” về phương pháp giáo dục của Rousseau

– Chất lượng giáo dục là đồng đều, tự thân người học, không luyện “gà chọi”.

– Công nhận sự khác biệt của từng đứa trẻ, nhìn nhận mỗi đứa trẻ là một thực thể khác biệt, có tự do, có khả năng riêng -> cách giáo dục “khác biệt hóa”.

– Mô hình lớp học: một lớp khoảng 15 học sinh, 3 giáo viên theo suốt từ lớp 0 đến ít nhất là lớp 6. Nhiệm vụ của giáo viên là nghiên cứu khuynh hướng và soạn giáo án riêng cho từng học sinh, không giáo dục áp đặt.

– Vai trò của nhóm, lớp, tập thể: là kênh giáo dục quan trọng, điều hòa giữa Cá nhân – Tập thể, dạy trẻ tinh thần hợp tác, đồng đội, quan tâm chia sẻ với người khác.

(Giáo dục ở Pháp – quê hương của Rousseau hiện còn nhiều bất cập, có thể là do tính bảo thủ, chậm đổi mới.)

2. Giáo dục ở Việt Nam

– Đầu tư cho giáo dục ở Việt Nam không hề ít: 20% ngân sách quốc gia được chi cho giáo dục (2013), phụ huynh quan tâm đầu tư cho giáo dục con cái.

– Tuy nhiên, kết quả đạt được còn kém, không hiệu quả, chất lượng không kiểm soát được.

-> Cần cải cách, tham khảo nhiều triết lý giáo dục, tìm hướng đi khác.

3. Kết luận

– Triết lý Giáo dục tự nhiên của Rousseau là một đột phá trong bối cảnh thế kỉ 18, nó có vai trò quan trọng trong cải cách giáo dục và đã được áp dụng thành công tại Phần Lan.

– Giáo dục hướng vào bên trong, giáo dục để “ làm người” chứ không phải chỉ vì nhu cầu xã hội, để trẻ được tự do phát triển về cả trí óc và thể trạng, có hạnh phúc thực tại.

– Việt Nam có thể học hỏi từ phương pháp Giáo dục tự nhiên, cần tham khảo nhiều triết lý giáo dục để đổi mới giáo dục có hiệu quả tốt nhất.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *