Leave a comment

Giáo dục Đại học Mỹ – Kỳ I (29/11/2014)

TÓM TẮT HỘI THẢO
GIÁO DỤC ĐẠI HỌC MỸ – KỲ I

Ngày: 29/11/2014

Địa điểm: FCafe – 116 Trần Quốc Toản, Quận 3, Tp. Hồ Chí Minh

Người trình bày:

  • Thạc sĩ Trần Đức Cảnh, cựu sinh viên Trường John F. Kennedy, ĐH Harvard; Nguyên Giám đốc Đào tạo và Phát triển Nguôn Nhân lực của chính quyền bang Massachusetts
  • Tiến sĩ Phạm Lan Hương, Đại học Quốc gia Tp.HCM

gddh_banner

I/ Phần trình bày của Ths. Trần Đức Cảnh

1. Lịch sử giáo dục Mỹ

– 1636: ĐH Harvard được thành lập, trở thành trường đại học đầu tiên của Mỹ

– 1693: ĐH William & Mary

– 1701: ĐH Yale

Ở giai đoạn khởi thủy, chương trình đào tạo hầu như gắn liền với việc truyền giáo, bao gồm các gồm các môn học về hình học, ngôn ngữ Latin…

2. Hệ thống đại học Mỹ

Có 2 loại trường đại học ở Mỹ:

– Trường công lập (State University): do chính quyền bang lập ra và tài trợ nhằm cung cấp một nền giáo dục với chi phí thấp cho người dân ở bang đó. Chính phủ liên bang chỉ đóng một vai trò rất hạn chế. Nước Mỹ không có một kế hoạch từ trung ương dành cho các trường đại học. Mỗi bang có một ban điều hành quyết định các chính sách chung của trường công. Tuy nhiên, tính độc lập của mỗi trường vẫn rất cao, đặc biệt là trong học thuật.

– Các trường tư thục (Private University): chiếm tỷ lệ rất cao và có chất lượng tốt. Học phí của các trường tư thục cũng thường cao hơn học phí của các trường công lập. Có hai loại trường tư thục:

+    Trường phi lợi nhuận (Non-profit): Các trường có tài sản đóng góp. Tài sản đóng góp bao gồm các nguồn tiền như tiền đóng góp của mạnh thường quân và đặc biệt là cựu sinh viên.Tài sản và lợi nhuận không đi vào túi của cá nhân hay nhóm lợi ích, nó được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác phục vụ cho trường.

+    Trường có lợi nhuận (For-profit): hoạt động như một công ty

3. Hệ thống bằng cấp

– Bằng cấp đại học: Bằng Cử nhân (Bachelor) và bằng cao đẳng (Associate)

Sinh viên thường cần 4 năm để có bằng Bachelor, và 2 năm để hoàn thành bằng Associate. Các chương trình lấy bằng Associate có thể là các chương trình “dứt điểm”, tức là sau khi tốt nghiệp sinh viên có thể làm luôn, hoặc các chương trình chuyển tiếp (transfer) tương đương với 2 năm đầu của bằng Cử nhân và có xu hướng chú trọng vào Liberal Arts (chuyển tiếp sau khi sinh viên kết thúc khóa có thể được chuyển vào năm thứ 3 của một chương trình lấy bằng Cử nhân).

– Bằng Thạc sĩ (Master)

Thời gian đào tạo thường là 2 năm. Loại bằng phổ biến bao gồm: Thạc sĩ (MA), Thạc sĩ Khoa học (MS), Thạc sĩ Quản trị Kinh doanh (MBA),…

– Bằng Tiến sĩ (Ph.D)

Bằng Tiến sĩ thường yêu cầu từ năm đến bảy năm học tập sau khi có bằng Cử nhân. Chương trình Tiến sĩ bao gồm viết luận văn dựa trên kết quả nghiên cứu. Nghiên cứu là một đặc điểm chính của phần lớn các chương trình sau đại học ở Mỹ. Ngoài việc giảng dạy và công tác quản lý trường, giảng viên các khoa thường tham gia vào các nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực mình đang giảng dạy.

4. Tài chính

– Học phí:

+    Trường công: Học phí cho sinh viên nước ngoài cao gấp 4 lần so với học phí cho sinh viên của bang.

+    Trường tư: Học phí cho sinh viên nước ngoài ngang bằng với học phí cho sinh viên Mỹ.

– Các loại hỗ trợ tài chính:

+    Need-based: dựa vào điều kiện của sinh viên để đưa ra hỗ trợ

+    Cho vay: cần có người thân ở Mỹ bảo lãnh

II/ Phần trình bày của TS. Phạm Lan Hương

So sánh Giáo dục Đại học Mỹ & Việt Nam:

Mỹ Việt Nam
– Cơ sở vật chất hiện đại – Không có cơ sở vật chất tốt
– Chính sách thu hút nhân tài hiệu quả, đội ngũ giảng viên có năng lực – Học phí thấp -> lương thấp -> không thu hút được giảng viên có trình độ cao=> Nâng học phí và nâng lương cho giảng viên, có các chính sách cho vay, học bổng hỗ trợ sinh viên nghèo
– Quyền quản lý được phân đều cho các bang. – Quản lý tập quyền, dẫn đến chồng chéo chức năng giữa Bộ GDĐT và Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (dạy nghề)- Tư duy bao cấp giáo dục còn nặng nề.
=> Sắp xếp lại, phân quyền quản lý

III/ Hỏi – đáp

1. Hệ thống giáo dục Việt Nam đã trải qua những cuộc cải cách nào?

[ TS. Hương]:

– Cải cách giáo dục lần thứ nhất 1950: Mục tiêu là giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ thành những người công dân trung thành với Tổ quốc; phương châm là học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn được thiết kế trên nguyên tắc: dân tộc, khoa học, đại chúng.

– Cải cách giáo dục lần thứ hai 1956: Hệ thống giáo dục cũ được sát nhập thành hệ thống giáo dục phổ thông 10 năm. Trong khi đó ở miền Namvẫn duy trì hệ giáo dục phổ thông 12 năm.

– Cải cách giáo dục lần thứ ba 1979: thống nhất để xây dựng hệ thống giáo dục tương đối hoàn chỉnh, thống nhất trong cả nước từ giáo dục mầm non đến đào tạo sau đại học

– Từ 1980 đến nay: chưa hề có thêm cuộc cải cách nào, chỉ có đổi mới giáo dục

=> Cải cách giáo dục cần gắn liền với cải cách toàn bộ nền kinh tế, chính trị, xã hội,…

[Th.S Cảnh]:

– Triết lý giáo dục trước năm 1975: “Nhân bản, Dân tộc và Khai phóng” -> cần suy nghĩ một cách hệ thống để tìm ra con đường cải cách phù hợp

– Mô hình đại học phi lợi nhuận vẫn chưa xuất hiện ở Việt Nam. Lợi thế của mô hình không vì lợi nhuận ở Mỹ là sự tham gia đóng góp của nhiều người quan tâm, lâu dài có sự tham gia và đóng góp của các cựu sinh viên.

2. Sinh viên Việt Nam cần chuẩn bị gì Việt Nam sắp gia nhập ASEAN Economic Community?

[TS. Hương]:

– Trau dồi kỹ năng tiếng Anh

– Nâng cao tinh thần kỷ luật, ham muốn tự học hỏi

– Phát triển, rèn luyện sức khỏe

[Người tham dự: Ông Đỗ Như Lực, Phó chủ tịch Hội Chất Lượng Thành phố Hồ Chí Minh]:

Với tư duy không hệ thống, sinh viên thường trở nên hoang mang khi nhận quá nhiều nguồn thông tin khác nhau, không biết nên tổng hợp và bắt đầu từ đâu.

=> Sinh viên cần rèn luyện cách suy nghĩ và tư duy hệ thống để đặt ra mục tiêu cho bản thân, thiết lập con đường cho riêng mình và theo đuổi đến cùng.

3. Trường công có thể học được gì từ trường tư? Chính sách của Nhà nước đối với hệ thống trường tư?

[TS. Hương]:

– Ưu điểm của trường tư: quyền tự chủ cao, năng động, hiệu quả

– Chính sách xã hội hóa giáo dục là cần thiết vì không thể bao cấp được hết cho tất cả các trường, tuy nhiên tốc độ phát triển vẫn chưa đạt được kỳ vọng. Cần bảo đảm công bằng để các nhà đầu tư yên tâm đầu tư, có các chính sách quản lý thích hợp để không biến trường tư thành nơi mua – bán kiến thức.

 

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *