1 Comment

Giảng dạy Phương pháp luận Nghiên cứu Khoa học: Chúng ta sai từ đâu (20/07/2014)

Ngày: 20/07/2014

Ngưi phtrách đtài: Ngô Thanh Nhàn, sinh viên Đại học Ngoại thương Tp.HCM

Ngưi hưng dn, trình bày: Nguyễn Phúc Anh 
Giảng viên Hán Nôm, Đại học Quốc gia Hà Nội
Nghiên cứu sinh Tiến sĩ Nhân học, Đại học Tokyo Metropolitan

thang 7 nckh

I/ Các nét chính trong phần trình bày

A – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT

1) “Phương pháp luận”, “phương pháp” hay “thao tác” nghiên cứu? Những điều bất cập và phi lý của cái gọi là “phương pháp luận” trong thực tế nghiên cứu.

a)      Giảng dạy nghiên cứu khoa học (NCKH) tại Việt Nam

  • Phương pháp luận khoa học (PPLKH) tại Việt Nam: là tồn dư sản phẩm của quá khứ, lấy Marxist làm nền tảng.
  • Áp dụng chủ nghĩa (CN) thực dụng vào nghiên cứu khoa học (NCKH):

✓      Quy định cứng nhắc về cách trình bày một bài báo khoa học[1].

✓      Các kỹ năng thuyết trình, viết bài báo khoa học được xem là một phần của PPLNCKH[2].

⇨      Hãy thử so sánh, đây có phải là Methodology, hay đó chỉ là thao tác (được giải thích ở phần sau)?

⇨      Kết luận: việc quy định cách trình bày, hướng dẫn các kỹ năng…chỉ là thao tác, nó không được xem là PPL, vì nội hàm của chúng khác nhau.

  • Quan điểm của Nguyễn Văn Dân về PPL: PPL là nói đến các đại tự sự

⇨      Trong khi đó, PPL được giảng dạy tại Việt Nam được xem chính là thế giới quan (PPL <=> Thế giới quan).

⇨      Không tồn tại một PPL nào tổng quan, không PPL nào có thể tự xem mình phản ánh được thế giới quan một cách tổng thể.

⇨      Tùy ngành KH, sẽ tồn tại một hoặc một số PPL phù hợp.

  • Định nghĩa thao tác: là cách thức thực hiện.

⇨      Bảng hỏi, khảo sát, phỏng vấn sâu…(được viết và giảng dạy về PPLNCKH tại Việt Nam) chỉ là thao tác, đó không được xem là PPLNCKH.

⇨      Lý do dẫn đến sự sai lầm này: sách về PPLKH được viết từ các nhà khoa học tự nhiên (KHTN) và nó được áp đặt cho các ngành khoa học xã hội (KHXH).

10439374_10204674486644760_5866471719182022673_n

b)      Thực hành NCKH – góc nhìn người trong cuộc (tác giả):

  • Làm thế nào để phát bảng câu hỏi khảo sát, phỏng vấn… khi nghiên cứu chủ đề Hán Nôm (đối tượng được khảo sát đã không còn tồn tại)?
  • Một số nghiên cứu khoa học không cần số liệu, không cần khảo sát, phỏng vấn…vẫn có thể được đăng trên các tạp chí khoa học đầu ngành
  • Một số ngành như Nhân học và thậm chí một số chuyên ngành Kinh tế học, chủ trương không dựa vào số liệu thống kê.
  • Nội dung được viết và giảng dạy về PPLKH tại Việt Nam chính là Academic Writing (Thao tác) tại các trường Đại học nước ngoài.
  • Cách quy định về trình bày, viết nguồn dữ liệu: đó chỉ được xem là thao tác, và mỗi tạp chí khoa học trên thế giới đều có thể tùy biến các quy định này.

⇨     Tổng kết luận điểm một: Phần lớn nội dung của cái được gọi là PPLNCKH tại Việt Nam chỉ là thao tác và PPLNCKH theo cách hiểu của Việt Nam không giúp chúng ta biết cách “làm khoa học”.

2) Định tính – định lượng, lí thuyết – thực tế, nghiên cứu cơ bản – ứng dụng: những cặp khái niệm đối lập vô dụng.

a)    Nghiên cứu định lượng & định tính:

  • Việc phân chia NC định lượng & NC định tính là không phổ quát: NCKH định lượng nhưng rồi cũng hướng đến kết luận định tính.
  • Có một số ngành không khuyến khích “NC định lượng”: như ngành Nhân học.

⇨     Thế giới ngày nay xem việc nghiên cứu như một quan sát từ góc nhìn bên trong, như việc người nghiên cứu kể một câu chuyện (đại tự sự).

⇨     Câu hỏi được đặt ra về tham vọng lượng hóa mọi vấn đề? Lượng hóa mãi có làm nghèo nàn chủ đề nghiên cứu? (Kinh tế và ngôn ngữ học là hai ngành xã hội gặp nhiều vấn đề nhất với tham vọng này).

⇨     Phân tích cách thức lượng hóa nghiên cứu KHXH của Nguyễn Văn Tuấn.

b)      Lý thuyết & Thực tế – Cơ bản & Ứng dụng:

  • Ví dụ: Đề tài nghiên cứu mô hình dự báo bão X cho điều kiện môi trường nhiệt đới tại Việt Nam.

✓      Nghiên cứu này là lý thuyết hay thực tế; cơ bản hay ứng dụng?

✓      Nếu nhằm biện luận đúng – sai: đây chỉ là thử nghiệm, không phải NCKH.

✓      Nếu nhằm thực hiện hiệu chỉnh mô hình: đây là NC lý thuyết.

✓      Nếu nhằm áp dụng: đây là NC thực tế.

✓      Khái niệm ứng dụng cao: khả năng kiếm tiền càng nhanh, khả năng ứng dụng càng cao.

⇨      Không tồn tại ranh giới giữa lý thuyết – thực tế, cơ bản – ứng dụng.

⇨      Không nên công lợi khoa học, đó không phải là con đường khoa học.

⇨     Tổng kết luận điểm hai: Định tính & định lượng, lý thuyết & thực tế, cơ bản & ứng dụng là các cặp khái niệm đối lập không nhiều ý nghĩa.

10561637_10204674488964818_5064199647883061553_n

3) Hoàng hôn của những “đại tự sự” và sự thất bại của quan điểm duy vật – biện chứng Marxist

a)    Tham vọng chứng minh mọi thứ từ góc nhìn biện chứng là ảo tưởng: tính tổng thể mà Martxist đề cập là gì?

⇨     Chúng ta không bao giờ nhìn thế giới một cách tổng thể như nó vốn là.

⇨     Ảo tưởng về khả năng nhìn nhận toàn thể thế giới của Marixst.

b)    Phê phán phương pháp duy vật: phương pháp duy vật ảo tưởng về sự “khách quan” và “tính lịch sử” của đối tượng.

⇨     Phương pháp duy vật lịch sử theo quan điểm của Marx thực ra lại vô cùng “duy tâm”.

⇨     Phương pháp duy vật lịch sử luôn yêu cầu nhìn đối tượng trong tính lịch sử của nó, và nhìn một cách khách quan => đây là một ảo tưởng.

c)    Mâu thuẫn giữa ý thức & vật chất (thuyết nhị nguyên)

⇨      Cặp đối lập ý thức – vật chất là một sản phẩm của triết học cổ điển và đã bị phản bác.

⇨     Thế giới đã chứng minh tồn tại một thứ không được xem là ý thức, cũng không được xem là vật chất.

⇨     Triết học đã phủ định thuyết nhị nguyên.

⇨     Những nhà nhân học chứng minh tư duy nhị nguyên là tư duy phổ biến của nhân loại, nó có tính quy giản hoá cao.

4) “Ngoài trời còn có trời” và những “người bay không biết có chân trời”

a)      Ngoài cách tư duy như “PPLNCKH” hiện tại, còn định hướng tư duy nào khác không?

–          Ngoài Marxist còn có các Chủ nghĩa khác.

⇨      Con người cần có tư duy độc lập.

⇨      Ví dụ về Trần Đức Thảo và những bế tắc của ông khi tư duy trong hệ thống khái niệm của Marxits.

⇨      Với cách tư duy như “PPLNCKH” hiện tại, chúng ta đang loay hoay tìm câu trả lời logic của những thứ không hề logic.

⇨     Tổng kết luận điểm ba và bốn: Con người cần tư duy độc lập, không nên phụ thuộc vào các đại tự sự, mỗi cá thể có một tự sự cho riêng mình.

10565108_10204674595287476_5889750103002420933_n

5) Tâm lý hậu thuộc địa và nghịch lý của việc “áp dụng” phương pháp trong nghiên cứu xã hội nhân văn

  1. Tâm lý hậu thuộc địa và hình thành các quan điểm sai:

⇨      Phương pháp nghiên cứu đúng đắn thì kết quả sẽ khả quan.

⇨      Nghiên cứu tốt là nghiên cứu dựa trên khung sườn lý thuyết tốt.

  1. Nghịch lý của việc “áp dụng” phương pháp trong nghiên cứu xã hội nhân văn.

⇨     Áp dụng cái này vào cái khác, áp dụng phương pháp nghiên cứu trong KHTN vào nghiên cứu KHXH.

⇨     Tổng kết luận điểm năm: “PPLNCKH” thể hiện sự sai lầm trong mặt nhận thức cách thức thực hiện NCKH và việc áp đặt phương pháp nghiên cứu KHTN cho lĩnh vực KHXH.

10433784_10204674595607484_1451084517374157720_n

B- THỰC HÀNH NGHIÊN CỨU

1)   Con đường tìm kiếmmột ý tưởng nghiên cứu tốt là gì?

a)      Ý tưởng có phải do tự nhiên nghĩ ra không?  => KHÔNG

b)      Nếu là người được gợi ý ý tưởng, thì đó là người vay mượn ý tưởng.

  • Để có được ý tưởng nghiên cứu tốt, hãy đọc và suy nghĩ liên tục.
  • Đọc rộng là các để nâng cao kiến thức tổng quát (background) tốt, nhưng không phải là cách chọn ra ý tưởng tốt.
  • Hãy đọc chuyên sâu để tìm ý tưởng nghiên cứu: đọc về chủ đề A, hãy đọc n tài liệu về chủ đề A, so sánh luận điểm giữa các tài liệu và phát ý tưởng nghiên cứu.

c)      Làm sao chọn lựa câu hỏi nghiên cứu khi có quá nhiều ý tưởng nghiên cứu?

  • Xây dựng màng lọc (bộ lọc) về tính khả thi

✓      Ngôn ngữ (không thể nghiên cứu những vấn đề của Lào nếu không biết hoặc giỏi tiếng Lào)

✓      Phạm vi nghiên cứu (rộng/ hẹp)

✓      Thời gian (tiến độ)

✓      Kinh phí

✓      Mối quan hệ (xã hội, người hướng dẫn)

✓      Khả năng tiếp cận tài liệu

  • Tập trung và nghiêm túc khi chọn lọc ý tưởng à nếu khả thi à viết đề cương NC (proposal)

⇨      Tổng kết luận điểm một: phải tự tìm ý tưởng, đừng làm người vay mượn ý tưởng. Con đường tìm ý tưởng luôn xuất phát từ việc đối thoại với những ý tưởng sẵn có.

⇨      Ý tưởng dễ nảy sinh, nhưng để trở thành câu hỏi nghiên cứu khả thi thì cần qua nhiều công đoạn.

–       Topic, argument và evidences: cơ bản nhưng hay bị bỏ quên

Nhiều bài báo NCKH tại Việt Nam thường không có argument (Dẫn chứng trong powerpoint)

–       Nếu thích làm nghiên cứu khoa học thì nên bắt đầu từ đâu?

  • Bắt đầu từ các phong trào NCKH sinh viên tại các trường Đại học.
  • Vì một số lý do như cơ chế, sự minh bạch… đừng quá kỳ vọng vào việc được đăng bài trên các tạp chí khoa học.
  • Hãy học cho mình

4) Chuẩn bị gì để có thể đăng bài trên các tạp chí NC và các cơ hội NC khác?

  • Tiếng Anh (4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết + tư duy và tranh luận)
  • Đọc sách
  • Chuẩn bị tài liệu
  • Apply các học bổng, fellowship, grant để có cơ hội NC và tài trợ

5) Nếu không theo NC như một nghề nghiệp (trở thành nhà nghiên cứu/ giảng viên) thì NC có lợi ích gì?

  • Khi có kiến thức chuyên sâu từ việc NC –> trau dồi kỹ năng và thái độ trong việc tìm kiếm, phân tích, xử lý thông tin, đưa ra kết luận về thông tin và đề ra giải pháp.
  • Tăng vốn ngoại ngữ

II/ Ý kiến bổ sung của người hướng dẫn

  • Thế giới không công bằng và nghiên cứu khoa học là một cuộc chơi mệt mỏi, tuyệt vọng
  • Về chủ nghĩa dân tộc, tâm lý chống thực dân và những tiêu chuẩn kiểu Việt Nam
  • Những học giả Ấn Độ và một phương án khẳng định chính mình
  • Sự sáo rỗng và xu hướng “giả cầy” trong ngôn ngữ văn bản khoa học
  • Câu chuyện trẻ – già trong nghiên cứu và nghề nghiệp

 10457950_10204674494564958_3789127533097964256_n

III/ Hỏi – đáp

Q: Đề tài như thế nào được xem là tốt để có thể xin học bổng?

A: Hãy chọn đề tài mà nhà trường “cần” khi xin học bổng, và hãy làm hết mình. Đừng quá lo lắng về chuyện thay đổi đề tài trong quá trình nghiên cứu (tác giả là một ví dụ điển hình), hãy làm hết mình.

Q: Lợi nhuận làm nghiên cứu có thật sự “cao” so với các ngành nghề khác ở nước sở tại? Hay chỉ cao so với mặt bằng của Việt Nam?

A: Nếu thật sự “yêu” tiền, bạn hãy chọn công việc khác thay vì nghiên cứu. Lợi nhuận khi làm nghiên cứu nên được hiểu ở khái niệm “đủ” sẽ chính xác hơn khái niệm “dư”.

Q: Nếu đề tài là nghiên cứu văn hóa bản địa (Việt Nam), thì việc xin PostDoc có thuận tiện không?

A: Vấn đề cốt lõi nằm ở argument, topic không hề quan trọng. Hãy tạo argument đủ “sexy” để đề tài được chấp thuận.

Q: Nếu đi nghiên cứu ở nước ngoài thì về Việt Nam có thuận tiện trong nghiên cứu không?

A: Bạn hoàn toàn có thể đi khắp thế giới nếu bạn muốn, thế giới đối thoại bằng argument, nên việc một người nghiên cứu nhân học ở Ghana và một người nghiên cứu tại Việt Nam hoàn toàn có thể trao đổi với nhau, nếu argument đủ hấp dẫn.

Q: Tiến sĩ tại Việt Nam thường rất ít kinh nghiệm, vậy có ảnh hưởng gì cho thế hệ Việt Nam khi được họ hướng dẫn nghiên cứu hay không?

A: Người Thầy hướng dẫn tuyệt vời là người Thầy định hướng, không bó buộc.

Q: Việc xem xét mô hình có được gọi là một nghiên cứu hay không?

A: Có, vì có sự phê phán, còn nếu chỉ áp dụng, thì đó không phải là nghiên cứu.

Q: Làm sao biết ai đúng, ai sai nếu một nghiên cứu mà không có số liệu?

A: Vấn đề quan trọng là quá trình có logic hay không, và nếu quá trình có logic, hãy tôn trọng quan điểm của nhau.

Q: Sau khi “đạp đổ” trong buổi trình bày hôm nay, anh có thể cho biết có cách nào gắn kết lại các khái niệm trên hay không?

A: Không cố gắng chắp vá một con thuyền đắm khi mà nó đã được thiết kế để đắm, hãy nhìn xem còn có nhiều con thuyền khác ngoài kia đang nổi. Trên thế giới, khái niệm“chuẩn khoa học” đang dần thay đổi.

Q: Vấn đề tác giả muốn đề cập hôm nay là việc sai nội dung hay sai về tên môn học đối với PPLNCKH? Nên hiểu thế nào là PPLNCKH và sự khác biệt gì trong định nghĩa khái niệm PPL?

A: Tác giả phê phán nội hàm và định nghĩa về PPL, tác giả cho rằng không nên tồn tại PPLNCKH. Ở nước ngoài, chỉ tồn tại môn Academic writing (thao tác). Vì khác quan điểm, dẫn đến khác về khái niệm, nên tác giả không thể định nghĩa khái niệm PPL, tác giả chỉ có thể định nghĩa về Methodology, Methodology là hệ thống, nền tảng lý thuyết của ngành, nên mỗi ngành sẽ có một Methodology riêng biệt.

10468076_10204674486924767_781958163510027120_n

IV/ Kết luận:

A – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT

➢    Phần lớn nội dung của cái được gọi là “PPLNCKH” tại Việt Nam chỉ là thao tác (Academic Writing).

➢    Định tính & định lượng, lý thuyết & thực tế, cơ bản & ứng dụng là các cặp khái niệm đối lập vô dụng.

➢    Con người cần tư duy độc lập, không nên phụ thuộc vào các đại tự sự, mỗi cá thể có một đại tự sự cho riêng mình.

➢   “PPLNCKH” thể hiện sự sai lầm trong mặt nhận thức cách thức thực hiện NCKH và việc áp đặt phương pháp nghiên cứu KHTN cho lĩnh vực KHXH.

⇨    Đừng cố gắng chắp vá “con thuyền đắm” khi nó đã được thiết kế để bị đắm. Thế giới cần sự đa dạng về quan điểm, không một đại tự sự nào có thể nhìn nhận thế giới một cách tổng thể. Người nghiên cứu phải chấp nhận sự đa dạng về Methodology đối với những ngành khác nhau.

B- THỰC HÀNH NGHIÊN CỨU

➢    Người nghiên cứu phải tự tìm ý tưởng, đừng làm người vay mượn ý tưởng.

➢    Topic, argument và evidences là ba yếu tố cơ bản cấu thành một bài nghiên cứu, trong đó, các bài báo nghiên cứu tại Việt Nam thường thiếu sót argument (không có argument)

➢    Hãy bắt đầu con đường nghiên cứu từ phong trào NCKH sinh viên tại các trường Đại học.

➢    Vì một số lý do như cơ chế, sự minh bạch… Đừng quá kỳ vọng vào việc được đăng bài trên các tạp chí.

➢    Hãy học cho mình.

⇨    Hãy nghiêm túc, tập trung, làm việc hết mình (đọc tài liệu và liên tục suy nghĩ) để có được một ý tưởng nghiên cứu tốt. Trong đó, argument là yếu tố hết sức quan trọng, phải đảm bảo ý tưởng nghiên cứu có argument đủ “sexy” trong ngành nghiên cứu của mình.

 

HẾT

____________________________________________________________________________________________________

[1] Giáo trình Phương pháp luận nghiên cứu khoa học của các tác giả Dương Văn Tiển, Lê Huy Bá, Phương Kỳ Sơn và Vũ Cao Đàm

[2] Giáo trình Phương pháp luận nghiên cứu khoa học của các tác giả Dương Văn Tiển, Lê Huy Bá, Phương Kỳ Sơn và Vũ Cao Đàm

One comment on “Giảng dạy Phương pháp luận Nghiên cứu Khoa học: Chúng ta sai từ đâu (20/07/2014)

  1. email của diễn giả npa@ussh.edu.vn

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *