Leave a comment

CÁC NGUYÊN TẮC CÔNG LÝ CỦA JOHN RAWLS VÀ BỐI CẢNH CHÍNH TRỊ PHƯƠNG TÂY ĐƯƠNG ĐẠI

Đơn vị Tổ chức: CLB Wonder of Wisdom (WoW) và CLB Học Thuật Lan Toả (SOAC)
Đơn vị Bảo trợ: Salon Văn Hoá Cà phê Thứ 7
Chủ trì : TS.LÊ TUẤN HUY
Diễn giả: PHẠM QUỐC VIỆT
Thời gian: 14h00 – 17h00 Chủ nhật ngày 07/10/2018
Địa điểm: Salon Văn hoá Cà phê thứ Bảy, 38 Võ Văn Tần, Q3, Tp.HCM

Bài viết được biên soạn bởi Phạm Quốc Việt

1. Các khái niệm cơ bản:

Giới thiệu các khái niệm cơ bản trong lý thuyết của Rawls: vị thế khởi nguyên, bức màn vô minh, điều tốt, thiết chế chính xủa xã hội và hai nguyên tắc công lý, tránh những hiểu lầm
thường bị mắc phải khi diễn dịch các khái niệm này.
Vấn đề công lý: tại sao phải có công lý
Công lý là hệ thống các quy tắc điều phối toàn bộ xã hội được đặt ra nhằm giải quyết hai vấn đề chính

Vấn đề hợp tác: tiêu chuẩn để phân chia lợi ích có được từ hợp tác xã hội hay giới hạn mà mỗi người có thể đưa ra đòi hỏi đối với người khác.
Mỗi người tuy đều có lợi ích nhưng không có sẵn nhu cầu hoặc yêu cầu (tức đòi hỏi ở người khác phải đáp ứng lợi ích cho họ. Các nguyên tắc công lý được đặt ra nhằm đưa ra một giới hạn mà nhờ đó một người có thể điều chỉnh các nhu cầu của mình từ đó đưa ra một đòi hỏi chính đáng đối với người khác. Khả năng đưa ra đòi hỏi chính đáng và được chấp nhận là cơ sở cho quá trình hợp tác xã hội, không có một tiêu chuẩn như vậy, xã hội sẽ rơi vào trạng thái phi chính phủ hoặc được các triết gia gọi là trạng thái tự nhiên.
Vấn đề tự nguyện: xã hội phải được thiết kế sao cho các cá nhân dù tham gia vào nó một cách không tự nguyện nhưng họ vẫn cảm thấy giống như là tự nguyện. Tức xã hội được thiết kế dựa trên các nguyên tắc mà mỗi cá nhân sẽ chấp nhận trong trạng thái tự nguyện và duy lý. Tính tự nguyện này được gọi là tính tự nguyện giả thuyết Tính tự nguyện giả thuyết là điều kiện quan trọng cho sự ổn định của mỗi xã hội, không có điều kiện này, xã hội sẽ luôn ở trên bờ vực bất ổn và bạo lực.

Đối tượng áp dụng của công lý
Đối tượng áp dụng của công lý là cấu trúc cơ bản của xã hội (basic structure of society) hay nói cách khác là cấu trúc chính trị của xã hội.

Vậy cấu trúc chính trị là gì? Để hiểu được cấu trúc chính trị ta phải hiểu được khái niệm về điều tốt (good).

Điều tốt là khái niệm chỉ tất cả những gì mà con người cần đến hoặc có lợi đối với con người. Những điều tốt quan trọng nhất đó là các quyền tự do, quyền bình đẳng, lòng tự trọng và lợi ích kinh tế,…
Cấu trúc chính trị là cấu trúc phân phối các điều tốt này trong xã hội.
Các mà các điều tốt này được nhận diện, khẳn định và phân chia cho các cá nhân trong xã hội.
Tính chất của các điều tốt này có thể khác nhau và cách phân phối khác nhau. Có những điều tốt có khả năng cạn kiệt như lợi ích kinh tế, có những điều tốt không cạn kiệt được như quyền (về bản chất là sự công nhận). Có điều tốt do xã hội tạo ra nhưng cũng có điều tốt do tự nhiên mà có (tài năng thiên bẩm).
Vậy cấu trúc chính trị là cơ chế phân phối điều tốt.
Kết hợp với các diễn giải bên trên, đối tượng áp dụng của công lý là cơ chế phân phối điều tốt.

Tổng hợp: Vậy các nguyên tắc công lý là các nguyên tắc dựa vào đó chúng ta thiết kế cấu trúc chính trị của một xã hội sao cho cấu trúc đó giải quyết được các vấn đề công lý. Theo kiến nghị của Rawls các nguyên tắc công lý thoả mãn được các vấn đề công lý phải được cá nhân chọn từ vị thế khởi nguyên (original position) đằng sau bức màn vô minh (the veil of Ignorance).
Cách hiểu thông thường đó là vị thế khởi nguyên là vị thế mà tại đó các cá nhân của xã hội cùng nhau lựa chọn hình thái xã hội mà họ sẽ sống trong đó. Tại vị thế khởi nguyên đó, cá nhân sẽ đứng vào mọi vị thế chính yếu của xã hội mà họ sẽ sống trong đó và không có thông tin cụ thể nào về vị thế cụ thể mà họ sẽ ở trong. Và vì họ không biết họ sẽ ở vị thế nào, họ sẽ lựa chọn các nguyên tắc công lý mà Rawls đề xuất. Cách hiểu này mang lại nhiều phê phán.
Đầu tiên đó là vị thế khởi nguyên là một mô tả phi thực tế, không có tại thời điểm nào mà con người tụ hội lại cùng nhau để lựa chọn xã hội mà họ sống. Con người luôn luôn sinh ra vào một xã hội nhất định nào đó và từ đó mà sống tiếp từ đó.
Thứ hai, bức màn vô minh là một khái niệm phi thực tế vì mỗi cá nhân luôn bi ảnh hưởng bởi những điều kiện cụ thể của họ như dân tộc, giới tính, tôn giáo và điều kiện sống, việc đòi hỏi rằng cá nhân phải tách khỏi vị thế cụ thể của bản thân và đặt mình vào mọi vị thế trong mọi xã hội là một điều ngớ ngẩn.
Thứ ba, dù một trạng thái tự nhiên hay vị thế khởi nguyên như thế có tồn tại và dù con người có khả năng đặt họ vào đằng sau bức màn vô minh như thế, không có gì đảm bảo họ sẽ chọn các nguyên tắc công lý do Rawls đề xuất.
Tuy nhiên cách hiểu này là sai lầm hoặc không rõ và những phê phán này dựa trên cách hiểu sai về các khái niệm và Rawls đề xuất.

Đầu tiên, vị thế khởi nguyên không phải là một trạng thái thế giới mà là một trạng thái tinh thần mà chủ thể chính trị nên có (the original position Is not a state of affair but the state of mind the
political agent should have)
Vị thế khởi nguyên không hề là mô tả về thế giới, một trạng thái lịch sử hay thực tế nào đó. Vì thế, mọi phê phán dựa trên giả định rằng vị thế khởi nguyên là một mô tả nào đó đều là những phê phán sai lầm.
Thay vào đó, vị thế khởi nguyên là trạng thái tinh thần, tức một trạng thái của tâm trí mà một cá nhân có được. Nó không nằm ngoài thế giới mà nằm trong tâm trí của một người, chịu tác động bởi các yếu tố tinh thần của người đó.
Nó là một trạng thái tâm trí nhưng không phải mọi trạng thái tâm trí mà là trạng thái của tâm trí mà một chủ thể chính trị nên có.
Vậy chủ thể chính trị là gì?
Để hiểu được khái niệm về chủ thể chính trị, chúng ta nên quay lại khái niệm về thế nào là một cấu trúc chính trị. Một cấu trúc chính trị là một cấu trúc phân phối điều tốt. Và chủ thể chính trị là chủ thể mà quyết định của họ có thể làm thay đổi cấu trúc đó. Các chủ thể chính trị khác nhau tại các hoạt động khác nhau có độ ảnh hưởng khác nhau đối với cấu trúc chính trị.
Về cơ bản tất cả mọi cá nhân đều có thể được xem là chủ thể chính trị. Tuy nhiên, trong một số hoạt động và vai trò đặc biệt mà tính chủ thể này được thể hiện một cách rõ rệt. Đó là những chức vụ, vị trí mà quyết định của những người tại vị sẽ có ảnh hưởng quan trọng đến cấu trúc chính trị như:
Thẩm phán
Người đi bầu
Nhà làm luật
Đại biểu quốc hội
Đảng viên các đảng chính trị
Những minh hoạ này cô thấy vị thế khởi nguyên không hề là một vị thế “trước xã hội” mà là “vị thế trong xã hội”, tức những cá nhân trong xã hội nhận thức được vai trò của họ đối với cấu trúc chính trị và hành động dựa trên vai trò đó.

Tất nhiên, một lưu ý cần phải được làm rõ đó là đây không phải là trạng thái luôn luôn có của chủ thể chính trị mà là trạng thái nên có. Không phải những người nào khi làm những công việc của thẩm phán, đại biểu hay cử tri đều thật sự ý thức được vai trò của họ và hàng động theo đó.
Vậy vị thế khởi nguyên là một trạng thái tâm trí mà tại đó một người nhận thức được hệ quả hành động của họ đối với cấu trúc chính trị của xã hội và sẵn sàng hành động theo các nguyên tắc nhất định để mang lại cấu trúc chính trị mà họ đang mong muốn.

Giờ khi đã làm rõ được khái niệm về vị thế khởi nguyên, chúng ta sẽ chuyển sự chú ý qua khái niệm về bức màn vô minh.
Bức màn vô minh thường được hiểu như một hoạt động tại đó cá nhân “tách mình” ra khỏi những thông tin cụ thể của bản thân để từ đó lựa chọn được các nguyên tắc công lý.
Tuy nhiên sự “tách mình” này được hiểu như thế nào? Thường thì sự tách mình này được mô tả là sự đặt mình vào vị thế của người khác. Như khi chúng ta chứng kiến người khác gặp đau đớn, chúng ta cũng đồng cảm với đau đớn của họ hoặc khi chúng ta xem một vở kịch, một bộ phim và cảm nhận được những gì mà nhân vật cảm nhận được. Và nếu đây thực sự là nội hàm của bức màn vô minh và Rawls muốn nói đến thì nó gặp phải khó khăn nghiêm trọng.
Đó chính là chúng ta thật sự không thể đồng cảm được hoàn toàn đối với người khác bởi mỗi người bị trói buộc bên trong bối cảnh cụ thể của mình, từ nơi sinh ra đến dân tộc, giới tính… Nếu tôi sinh ra trong một giới tính này, việc đồng cảm với người thuộc giới tính khác, dù có thể thực hiện được đi chăng nữa nhưng cũng không bao giờ là tuyệt đối. Và nếu việc đặt mình vào vị thế của người khác một cách tuyệt đối là không thể, thì khái niệm bức màn vô minh đang mô tả một hoạt động, về
Tuy nhiên cách hiểu này, dù vẫn có phần liên quan, nhưng không hề đúng. Bức màn vô mình không hề là một quá trình cảm nhận mà là một hoạt động có tính phạm trù. Hay nói chính xác hơn là một phương pháp luận để từ đó chủ thể chính trị trong vị thế khởi nguyên có thể tìm ra được các nguyên tắc công lý để điều phối xã hội.
Khi con người tham gia vào những hoạt động có tính phạm trù, họ không tương tác với những trải nghiệm thực tế mà tương tác với các phạm trù được khái quát từ thực tại.
Một ví dụ cho hoạt động phạm trù là hoạt động mà người làm toán thực hiện. Khi làm toán, chúng ta không tương tác với các đối tượng được mang lại trực tiếp bởi kinh nghiệm mà là các đối tượng có tính phạm trù: con số, hình học, các nguyên tắc. Tuy những đối tượng này là những đối tượng có thật nhưng chúng không được mang lại trực tiếp thông qua các giác quan và được trích lọc ra từ những trải nghiệm thực tế. Bức màn vô minh là ẩn dụ cho một hoạt động có tính phạm trù như thế.
Tuy nhiên, nếu thừa nhận rằng nó là một hoạt động mang tính phạm trù thì nó thật sự là hoạt động gì?
Để hiểu được điều này, ta phải quay về khái niệm về vị thế khởi nguyên. Như đã diễn giải ở trên, vị thế khởi nguyên là một trạng thái tâm lý mà chủ thể chính trị nên có khi ra các quyết định chính trị. Tuy nhiên, một điều còn thiếu đó là chúng ta không biết được chủ thể chính trị sẽ sử dụng tiêu chuẩn nào để lựa chọn giữa các quyết định chính trị khác nhau. Tại đây mà bức màn vô minh phát huy vai trò của nó. Bức màn vô minh chính là tập hợp các điều kiện mà chủ thể chính trị sử dụng để ra các quyết định chính trị, hay cụ thể trong trường hợp này là lựa chọn các nguyên tắc công lý – lựa chọn chính trị cơ bản và quan trọng nhất.
Nếu xem các nguyên tắc công lý là một hàm số mà chúng ta phải tìm ra để điều phối xã hội thì bức màn vô mình chỉ thị rằng hàm số đó không đưa chứa các biến số nhất định. Và các biến số đó là các biến số có liên quan đến thông tin cụ thể của chủ thể chính trị. Chủ thể chính trị, trong vị thế khởi nguyên và lựa chọn theo bức màn vô minh sẽ không thật sự đồng cảm với người khác mà chỉ là không thừa nhận bất cứ biến số nào trong hàm số của công lý được suy ra từ bối cảnh cụ thể của họ.
Vì thế, bức màn vô minh mô tả một hoạt động bình thường mà bất kì ai thoả mãn được những tiêu chuẩn cơ bản về trí tuệ cũng có thể thực hiện được.
Vậy câu hỏi ở đây là đối với những đối tượng, dù là thành viên của cộng đồng chính trị như người khuyết tật về tinh thần hoặc động vật, những đối tượng không có khả năng đi vào vị thế khởi nguyên và bức màn vô minh thì sao? Đây là một vấn đề mà Rawls chưa hề giải quyết nhưng từ những diễn giải trên có thể giải quyết như sau”
Đầu tiên, cấu trúc chính trị không nhất thiết phải được xây dựng bởi tất cả mọi thành viên của cộng đồng. Và trên thực tế thì thường xuyên là vậy, ngay cả trong một chế độ có tính tham gia
cao nhất, cấu trúc chính trị chỉ được thiết lập bởi một số công dân năng động chính trị. Và rằng các nguyên tắc công lý không phải là hệ quả từ một sự thoả thuận mà là hệ quả từ quá trình
tư duy của mỗi chủ thể chính trị. Theo đó, cấu trúc chính trị có thể được xây dựng lên bởi một số ít người nhưng cũng có thể đảm bảo được lợi ích của tất cả mọi người hay nói cách khác là
tất cả mọi thành viên trong xã hội. Người khuyết tật và động vật cũng có thể được bảo vệ trong khuôn khổ cấu trúc chính trị mà họ không tạo nên nhưng được xây dựng trên các nguyên tắc công
lý.

Vậy bức màn vô minh là một tập hợp các tiêu chuẩn mà chủ thể chính trị sử dụng khi họ ở trong vị thế khởi nguyên để tìm ra các nguyên tắc công lý điều chỉnh cấu trúc chính trị của xã hội.
Vậy tại sao chủ thể chính trị khi ở trong vị thế khởi nguyên lại lựa chọn bức màn vô minh làm tiêu chuẩn mà không phải là một tập hợp điều kiện khác?
Rawls giải quyết vấn đề này bằng khái niệm về trạng thái cân bằng hai chiều (reflective equilibrium). Có nghĩa, nếu các nguyên tắc công lý đạt được bằng bức màn vô minh thoả mãn được trực giác của chúng ta hoặc mở rộng nó theo hướng hợp lý thì điều đó có nghĩa bức màn vô minh là phù hợp để lựa chọn các nguyên tắc công lý. Còn nếu không, chúng ta sẽ chỉnh sửa nó theo
một cách nào đó rồi đi tìm các nguyên tắc công lý, và nếu các nguyên tắc công lý đó không phù hợp, chúng ta sẽ chỉnh sửa tiếp cho đến khi trạng thái cân bằng đạt được.

Một giải pháp thứ hai được Rawls đưa ra đó là lối diễn giải theo trường phái Kant (Kantian interpretation). Theo đó, mỗi chủ thể chính trị không chỉ thực hiện lựa chọn các nguyên tắc công lý cho mình mà còn cho tất cả mọi thành viên khác trong xã hội. Vì thế, họ phải lựa cọn dựa trên các nguyên tắc thể hiện rằng họ là những chủ thể bình đẳng, tự do và duy lý, xem chủ thể khác
có mục đích tự thân và không lợi dụng những lợi thế sẵn có của bản thân hoặc bất lợi của người khác.
Tuy nhiên, để thật sự hiểu được hai khái niệm quan trọng này, chúng ta phải biết được các nguyên tắc công lý cụ thể là gì.

Các nguyên tắc công lý
Như trên tôi đã giới thiệu, các nguyên tắc công lý được tạo ra để điều phối cấu trúc chính trị của xã hội tức cách mà một xã hội phân phối các điều tốt của nó.
Vậy, để tìm ra các nguyên tắc công lý, ta phải đào sâu hơn về khái niệm điều tốt.


Có ba loại điều tốt:
Loại 1: Điều tốt có thể làm cho bình đẳng được và nên được làm cho bình đẳng
Loại 2: Điều tốt có thể làm cho bình đẳng được nhưng không nên làm cho bình đẳng
Loại 3: Điều tốt không thể làm cho bình đẳng.

Loại điều tốt Có thể làm cho bình đằng được Nên làm cho bình đằng
1
2 ×
3 ×  

Và vì các nguyên tắc công lý được chọn dưới bức màn vô minh nên chủ thể chính trị tất yếu sẽ mong muốn rằng những điều tốt loại 1 sẽ được làm cho bình đẳng. Đối với điều tốt loại 2 thì họ mong muốn rằng họ phải có cơ hội bình đẳng như chủ thể khác thể đạt được sự bất bình đẳng đó và sự bất bình đẳng đó phải phục vụ cho lợi ích của họ nếu họ lỡ rơi vào đáy, tức vị thế thiệt thòi nhất của cơ chế bất bình đẳng đó. Còn đối với điều tốt loại 3, vì họ không thể đạt được nên họ chắc chắn cũng mong muốn rằng sự bất bình đẳng đến từ đó sẽ phục vụ lợi ích của họ một cách cao nhất so với các khả thể cấu trúc chính trị khác.
Việc công nhận bình đẳng đối với những điều tốt có thể bình đẳng được và nên được bình đẳng được Rawls gọi là nguyên tắc về hệ thống quyền tự do bình đẳng (equal liberty principle)
Việc cho rằng những điều tốt có thể làm cho bình đẳng được nhưng không nên được làm cho bình đẳng thì mọi người phải có cơ hội như nhau trong việc tiếp cận chúng được Rawls gọi là nguyên tắc bình đẳng cơ hội cho mọi người (fair equal of opportunity) – Rawls dùng thêm yếu tố “fair” để nhất mạnh rằng đây là một sự bình đẳng thực chất chứ không phải chỉ là bình đẳng trên danh nghĩa.
Việc cho rằng những cơ chế bất bình đẳng phải phục vụ cho lợi ích lớn nhất của vị thế thiệt thòi nhất trong cơ chế bất bình đẳng đó được gọi là nguyên tắc dị biệt (different principle)
Tổng hợp lại, ta có biểu đồ sau:

Loại điều tốt Có thể làm cho bình đằng được Nên làm cho bình đằng Nguyên tắc Cách phân loại của Rawls
1 Hệ thống quyền tự do bình đằng Nguyên tắc thứ nhất
2 × Bình đằng cơ hội + Dị biệt Nguyên tắc thứ hai
3 ×   Dị biệt

Hai nguyên tắc công lý này được Rawls đặt vào trong trật tự được gọi là trật tự đứt quãng (lexical order) có nghĩa nguyên tắc thứ hai chỉ được xét đến nếu nguyên tắc thứ nhất đã thoả mãn. Tình trạng bất bình đẳng chỉ được chấp nhận khi tình trạng bình đẳng đã được hiện thực hoá hoàn toàn.
Vậy điều gì biện minh cho các nguyên tắc công lý này? Như tôi đã trình bày, các nguyên tắc công lý là thoả đáng nếu nó tương thích hay mở rộng trực giác của chúng ta về vấn đề công lý.
Vậy các nguyên tắc có giải quyết ổn thoả được vấn đề công lý hay không?
Đầu tiên, chúng ta thấy rằng nó đảm bảo được cơ chế hợp tác xã hội, mỗi người được nhận phần chia như nhau từ cơ chế hợp tác xã hội và chỉ nhận phần lớn hơn khi họ là người xứng đáng nhất (có tham vọng cao nhất) và vì họ đã phụ vụ lợi ích của mọi người. Cách dàn xếp mà các nguyên tắc công lý đem lại hiện thực hoá được ước vọng của những nhà tự do cổ điển đó là mỗi người khi theo đuổi mục tiêu tư lợi của riêng mình sẽ phục vụ cho lợi ích chung của toàn xã hội. Tuy nhiên, hệ quả đó không hề được phái sinh từ bất kì bàn tay vô hình nào mà chính là từ các nguyên tắc công lý được các chủ thể chính trị kiến tạo nên một cách chủ động.
Các nguyên tắc công lý đảm bảo được điều kiện về tính bình đẳng giả thuyết trong đó các nguyên tắc công lý dù được chọn bởi một chủ thể này nhưng cũng sẽ được chọn bởi một chủ thể khác nếu chủ thể khác đó tiến hành lựa chọn. Mỗi người dù không lựa chọn sinh ra trong xã hội thoả các nguyên tắc công lý nhưng xã hội đó lại được thiết kế như thể họ chính là người được lựa chọn.
Một số ưu điểm khác của các nguyên tắc công lý:
Tạo ra ổn định chính trị, dọn đường cho sự tích luỹ tư bản (vật chất, kiến thức, văn hoá) trên phạm vi toàn xã hội.

Tạo ra tình đoàn kết giữa các thành viên trong xã hội khi không ai thấy mình bị bỏ lại phía sau và những bất bình đẳng là chính đáng.
Tạo ra khuôn khổ cho sự kiểm soát một cách hợp lý thị trường tự do, từ đó thúc đẩy những phương diện tích cực của thị trường.

Trước khi đến với các phê phán đối với các nguyên tắc công lý của Rawls, chúng ta cần làm rõ trước cấu trúc nội tại của các nguyên tắc. Tại đây, tôi sẽ không sử dụng phân loại của Rawls (2 nguyên tắc) mà phân tích cụ thể ba nguyên tắc thành phần đó là nguyên tắc về hệ thống quyền tự do bình đẳng, nguyên tắc bình đẳng cơ hội cho mọi người và nguyên tắc dị biệt.
Nguyên tắc về hệ thống quyền tự do bình đẳng – principle of equal liberty

Đây là nguyên tắc thường không được chú ý đến tuy nó có tầm quan trọng đặc biệt trong việc hiểu và áp dụng các nguyên tắc công lý của Rawls.
Rawls phát biểu nguyên tắc này như sau: mỗi người được hưởng hệ thống quyền tự do bình đẳng tối đa tương thích với quyền tự do cho tất cả mọi người.
Theo cách phát biểu của Rawls và theo như phân tích từ vị thế khởi nguyên và bức màn vô minh, nguyên tắc thứ nhất gồm hai thành phần đó là chủ nghĩa quân bình (egalitarianism) và chủ nghĩa hữu dụng (utilitarianism).
Phần chủ nghĩa quân bình đảm bảo rằng các điều tốt có thể được làm cho bình đẳng thì nên được bình đẳng phân phối. Tuy nhiên, bình đẳng không có giá trị tự thân. Tình trạng bình đẳng chỉ chính đáng khi nó là tình trạng bình đẳng tốt nhất trong các tình trạng bình đẳng nhất, tức tình trạng bình đẳng tối đa, và đây chính là thành phần hữu dụng chủ nghĩa mà tôi muốn nói tới.
Tuy nhiên, tính hữu dụng cũng không có giá trị tự thân, một xã hội có độ hữu dụng tốt nhất chỉ biện minh được khi những hữu dụng đó được phân phối một cách bình đẳng.
Ví dụ: giữa một xã hội mà mỗi thành viên được hưởng 2 đơn vị điều tốt và một xã hội mà mỗi thành viên sở hữu 3 đơn vị điều tốt, xã hội với 3 đơn vị điều tốt phải được lựa chọn.
Sự tồn tại của tính hữu dụng bên cạnh tính quân bình cũng quyết định rằng điều tốt nào là nên được làm cho bình đẳng và không nên được làm cho bình đẳng. Một điều tốt không nên được làm cho bình đẳng nếu sự không bình đẳng đó làm gia tăng điều tốt được thụ hưởng bởi xã hội. Tuy nhiên, trong trường hợp đó thì ta phải dùng đến nguyên tắc thứ hai để quyết định rằng sự bất bình đẳng đó được phân phối như thế nào.

Nguyên tắc bình đẳng cơ hội cho mọi người – principle of fair equal of opportunity
Đối với nguyên tắc này có hai điều cầu lưu ý:
Bình đẳng cơ hội được nói đến là bình đẳng thực chất, tức sự tiếp cận đối với các vị thế có lợi thế hơn phải thật sự được rộng mở đối với mọi người, tức hai người có tham vọng như nhau phải có cơ hội như nhau trong việc đạt được vị thế đặt quyền. Chẳng những không giới hạn tuỳ tiện nào được đặt ra trên con đường đạt được vị thế đó của họ mà họ còn phải được xã hội cung cấp những cơ sở tối thiểu để đạt được những vị thế đó. Điều này đòi hỏi rằng một hệ thống nào đó phải tồn tại để cung cấp cho mỗi người, một cách không điều kiện, cơ sở tối thiểu để đạt được bất kì vị thế và chức vụ
nào trong xã hội. Trong bối cảnh chỉnh trị thực tiễn, cơ sở đó là hệ thống giáo dục đại chúng miễn phí, hệ thống bảo hiểm, quyền tiếp cận hệ thống pháp lý,…
Tất nhiên, quyền bình đẳng cơ hội này cũng là một điều tốt được điều chỉnh bởi nguyên tắc đầu tiên và nguyên tắc dị biệt. Mỗi người được hưởng bình đẳng cơ hội lớn nhất tương thích với bình đẳng cơ hội cho tất cả mọi người.
Và sự bất bình đẳng về cơ hội chỉ được biện minh khi điều đó tối đa hoá điều tốt được thụ hưởng bởi người thiệt thòi nhất.
Nguyên tắc bình đẳng cơ hội có liên kết với điều tốt mà Rawls cho rằng là quan trọng nhất đối với các thành viên trong xã hội đó là lòng tự trọng self-respect – cảm thức của mỗi người về việc họ là thành viên đầy đủ và xứng đáng của xã hội, được các thành viên khác tôn trọng và công nhận. Đây chính là lý do mà tại sao nguyên tắc bình đẳng cơ hội lại đứng trước nguyên tắc dị biệt vì dù một người có thật sự được lợi từ một cơ chế bất bình đẳng thì họ cũng không thể chấp nhận được rằng họ không có cơ hội trong việc đạt được vị thế bất bình đẳng đó.
Điều này lý giải vì sao một chế độ phong kiến nhân từ, nơi có một minh quân cai trị vì lợi ích của tất cả mọi người, lại phi công lý vì vị thế đặc quyền, là quân vương, bị đóng lại đối với những người không sinh ra đúng nơi đúng thời điểm.
Nguyên tắc dị biệt – the difference principle
Nguyên tắc dị biệt điều phối các bất bình đẳng tự nhiên vốn không thể tái phân phối được và đảm bảo rằng các bất bình đẳng đó phục vụ lợi ích cho tất cả mọi người.
Lợi ích lớn nhất cho người thiệt thòi nhất được hiểu như sau: sự xa rời trạng thái bình đẳng trong sự phân phối điều tốt phải mang lại lợi ích cho người thiệt thòi hơn. Và trong tổng thể xã hội nói chung thì đó là người thiệt thòi nhất. Người thiệt thòi nhất có được lợi ích lớn nhất đồng nghĩa với các vị thế thiệt thòi trước đó cũng có được lợi ích lớn nhất. (Biểu đồ)

Có hai điểm mà nguyên tắc dị biệt thường bị phê phán
Đầu tiên đó là quan điểm cho rằng, nếu công nhận rằng người thiệt thòi nhất có được lợi ích lớn nhất nếu tình trạng bất công xảy ra (lợi ích bồi hoàn), thì đối với những đối tượng có khiếm khuyết trầm trọng về tinh thần, lợi ích được bồi hoàn đó sẽ là vô tận. Tuy nhiên phê phán này dựa trên cơ sở sự tách rời nguyên tắc dị biệt đối với nguyên tắc thứ nhất đó là những người có
khiếm khuyết như thế chỉ nhận được một cơ chế ngang hàng đối với các thành viên khác trong xã hội là lợi ích bồi hoàn chỉ lớn đến mức đảm bảo cho người đó được thụ hưởng các quyền ngang hàng như thế.

Một phản đối thứ hai đó là sự áp dụng nguyên tắc dị biệt sẽ gây ra tình trạng “nô lê ngược” tức những người có tài năng sẽ phải làm nô lệ cho những người ít tài năng hơn. Tuy nhiên, phê phán này tách nguyên tắc dị biệt ra khỏi nguyên tắc thứ nhất và ra khỏi các nguyên tắc như một chỉnh thể. Đầu tiên đó là những người tài năng cũng sẽ được hưởng một cơ chế tối thiểu như người không có tài. Thứ hai, sự tồn tại ổn định của một cơ cấu chính trị ổn định thông tin cho người có tài ngay từ đầu rằng nếu họ có mong muốn chiếm hữu vị thế đi liền với tài năng đó, họ phải chi trả một cái giá nhất định và như thế là hoàn toàn đảm bảo rằng sự chiếm dữ của họ là hoàn toàn tự nguyện.

Các phê phán đối với các nguyên tắc của Rawls

Tên trường phái  Cơ sở Hồi đáp
Chủ nghĩa cộng đồng (Communitarianism) Chủ nghĩa cộng đồng phê phán các nguyên tắc của Rawls rằng việc lựa chọn các nguyên tắc này đòi hỏi mỗi người phải tách khỏi hoàn cảnh sống cụ thể của chính mình – Hay nói cách khác là
tuân theo các điều kiện của bức màn vô minh – trong khi điều đó là không thể vì bản ngã của con người là hoà nhập với cộng đồng: the embedded self
Như tôi đã giải thích bên trên việc áp dụng các điều kiện của
bức màn vô minh không đòi hỏi cá nhân phải tách ra khỏi
bối cảnh thực tế của mình mà là một hoạt động mang tính
phạm trù, trong đó, các biến số có liên quan đến thông tin
cụ thể sẽ không được tính đến.
Libertarianism Libertarianismphủ nhận nhu cầu công lý của xã hội và kiến nghị một nguyên tắc thay thế đó là nguyên tắc self-ownership. Phủ nhận ngay từ đầu các điều kiện làm phát sinh nhu cầu đối với công lý. Nguyên tắc self-ownership về cơ bản không thể được dùng để kiến tạo nên cấu trúc chính trị của xã hội, ít nhất là dưới tư cách nguyên tắc đầu tiên vì nó không tính đến sự ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên và xã hội đối với mỗi người.
Bên cạnh đó, việc cho rằng trong quá trình theo đuổi lợi ích của mình, các thành viên trong xã hội sẽ tự động thiết lập được một cơ chế điều phối quyền và nghĩ vụ là điều bất khả trên phương diện nhận thức luận. Vì dù mỗi người đã có sẵn lợi ích nhưng
họ đều cần một hoặc nhiều tiêu chuẩn được thiết lập sẵn bên ngoài để biến lợi ích đó thành nhu cầu đối với người khác. Nếu không có một hệ tiêu chuẩn bên ngoài như thế, con người sẽ biến lợi ích thành nhu cầu vô hạn đối với người khác và đầy xã hội rơi vào trạng thái tự nhiên vô chính phủ – nơi tất cả mọi người chống lại tất cả mọi người – the war of all against all.
Naturalism Chủ nghĩa tự nhiên phủ nhận sự cần thiết của khái niệm vị thế khởi nguyên. Lập luận của chiều hướng phê phán này tập trung xung quanh quan điểm rằng con người không nên chủ động thay đổi cấu trúc của xã hội vì xã hội quá phức tạp hoặc đã tiến hoá
đến mức độ hoàn chỉnh rồi và không cần phải thay đổi gì thêm cả.
Quan điểm này dựa trên một nguỵ biện được gọi là naturalistic fallacy. Cho rằng những gì đang là cũng là những gì nên là. Và quan điểm mà trường phái này phê phán cũng không hề hợp lý vì xã hội được duy trì bởi một nỗ lực liên tục và có ý thức, sự can
thiệp của con người, dù có để thay đổi hay không cũng đã là
thường trực. Thế nên, câu hỏi không bao giờ là có can thiệp
hay không mà là can thiệp như thế nào. Trường phái phê
phán này cũng có vai trò của nó trong việc nhắc nhở những
nhà cải cách xã hội cần tính đến mọi yêu tố trong dự án chính trị của mình để không tạo ra các rối loạn nghiêm trọng dù là với những mục đích tốt đẹp.

 

2. Các trường phái chính trị phái sinh và phản đối

Từ khi ra đời, lý thuyết của Rawls đã được phê phán mở rộng cũng như phản đối và hình thành nhiều trường phái chính trị khác nhau. Với mỗi không gian mà các nguyên tắc của Rawls được áp
dụng vào, một trường phái chính trị với một tên riêng được sinh ra và có những trường phái đối lập tương ứng.
Khi được áp dụng vào không gian kinh tế, sự công nhận các nguyên tắc của Rawls đòi hỏi hình thành một nhà nước kèm theo hệ thống phúc lợi, cung cấp cho mỗi công dân một lưới an toàn
trước những rủi ro của tự nhiên và xã hội. Xu hướng này được gọi là xu hướng “các nhà nước Châu Âu”, hay “nhà nước phúc lợi” hoặc chính xác hơn là xu hướng xã hội chủ nghĩa (socialism).

Khi được áp dụng vào không gian giới tính, gia đình, xu hướng công nhận và áp dụng các nguyên tắc của Rawls được gọi là chủ nghĩa nữ quyền, đòi hỏi sự xoá bỏ các định kiến về giới và thực hiện bồi hoàn lịch sử đối với những giới tính bị áp bức trước đó.
Khi áp dụng vào không gian các nhóm văn hoá trong một xã hội, sự công nhận các nguyên tắc của Rawls đòi hỏi các nhà nước phải có những chính xác đặc biệt đối với các nhóm văn hoá thiểu số và thiệt thòi, thực hiện những chính sách bồi hoàn cần thiết để các nhóm đó hoà nhập vào sinh hoạt chung của xã hội và được thụ hưởng quyền bình đẳng như các thành viên khác. Xu hướng này được gọi là chủ nghĩa đa văn hoá.
Khi áp dụng vào mối quan hệ giữa các quốc gia, sự áp dụng các nguyên tắc công lý đòi hỏi sự áp dụng của một hệ thống thiết chế duy nhất nhằm đảm bảo cho mọi người dân của các quốc gia khác nhau được thụ hưởng quyền như nhau. Thực hiện bồi hoàn, thông qua hình thức viện trợ đối với các quốc gia chịu hậu quả từ quá trình thực dân hoá, gỡ bỏ các rào cảng văn hoá, chủ trương xây dựng một nền văn hoá toàn cầu thống nhất trong đa dạng. Xu hướng này được gọi là chủ nghĩa quốc tế hay chủ nghĩa toàn cầu và con người đó nhận một nền văn hoá như thế được gọi là công dân toàn cầu.
Cần lưu ý rằng xu hướng toàn cầu hoá có thể mang màu sắc của chủ nghĩa toàn cầu hoặc không. Xu hướng toàn cầu hoá có thể mang màu sắc tân tự do (neo-liberalism) đòi hỏi sự tháo dỡ các ràng buộc về thuế quan và chính sách vốn cuối cùng có thể gây hại cho những người thiệt thòi. Quá trình toàn cầu hoá mang màu sắc của chủ nghĩa toàn cầu là quá trình trong đó một thiết chế thống nhất được áp dụng cho mọi công dân của các quốc gia khác nhau, đảm bảo sự thụ hưởng quyền bình đẳng của các công dân đó mặc cho họ sinh ra ở đâu.
Dưới đây là bảng thể hiện các phong trào mở rộng từ các nguyên tắc công lý của Rawls và các phong trào phản động

Không gian (Sphere) Các phong trào cấp tiến (Liberal Movements) Các phong trào phản động (Reactionary Movement)
Kinh tế Socialism Neo-liberalism: Được xây dựng dựa trên cơ sở lý luận của libertarianism – chủ trương thủ tiêu nhà  nước phúc lợi, thị trường hoá mọi mặt của đời sống xã hội.
Giới tính, gia đình  Feminism Sexism

Chủ trương sự phân biệt giữa các giới tính. Quan niệm rằng
nam và nữ có vai trò tự nhiên riêng và không thể được vượt qua. Chối bỏ việc công nhận các giới tính thiểu số.

Quốc tế Globalism Nationalism

Chống lại xu hướng toàn cầu hoá, duy trì đặc quyền của các quốc gia thuộc thế giới thứ nhất. Cần phân biệt chủ nghĩa dân tộc ở các nước phương Tây so với các nước thuộc thế giới thứ ba. Trong
khi chủ nghĩa dân tộc của các nước thuộc thế giới thứ ba gắn liền với tiến trình giải thuộc địa thì chủ nghĩa dân tộc ở các nước phương Tây gắn liền với quá trình thuộc địa hoá và đàn áp các dân tộc khác.

Các nhóm văn hoá Multiculturalism Racism

Duy trì quan điểm cho rằng các dân tộc khác nhau thì có vị thế khác nhau và dân tộc thượng đẳng hơn có quyền thống trị các dân tộc khác.
Bối cảnh chính trị phương Tây đương đại có thể được hiểu một cách tóm lượt là cuộc đấu tranh giữa một lực lượng muốn hướng đến sự mở rộng của các nguyên tắc công lý còn một lực lượng hướng đến sự kềm hãm và thu hẹp các nguyên tắc công lý.

  3. Case Study và thảo luận

Câu hỏi thảo luận: Bạn có muốn sống trong một chế độ được miêu tả thông qua video hay không?

Video buổi thảo luận:

THÔNG TIN LIÊN HỆ

CLB Học Thuật Lan Toả: https://www.facebook.com/soac.edu
CLB Wonder of Wisdom: https://www.facebook.com/WonderofWisdom/
Salon Văn hoá Cà phê Thứ Bảy: https://www.facebook.com/caphethubay/
Diễn giả
facebook.com/phamquocvietface
phamquocvietface@gmail.com
viettheseeker.wordpress.com
https://www.linkedin.com/in/viet-pham-2409b08b/

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *